Lục Châu Học
CHƯƠNG IV
BUỔI SƠ KHỞI
ĐẠO THIÊN CHÚA Ở MIỀN NAM
Nguyễn Văn Trung
Các tôn giáo đă có từ lâu, tác động
lớn vào văn minh văn hóa xă hội loài người.
Về văn học, đương nhiên cũng vậy.
Không ai phủ nhận một tác phẩm chỉ v́ nó do
một người có đạo viết, hoặc v́
nội dung đậm nét tư tưởng tôn giáo. Ở
Việt Nam cũng vậy, có ai lại đặt vấn
đề phủ nhận "Lục Vân Tiên" v́ nó đề
cao và truyền bá Nho giáo, "Cung oán ngâm khúc" v́ quá
nặng triết lư Phật giáo... Và dĩ nhiên chúng ta
cũng đă không bỏ qua tác phẩm của các thiền
sư Việt Nam.
Nhưng đối với nền văn
học Thiên Chúa giáo Việt Nam, chúng ta đă không có
được thái độ như thế. Ở Miền
Nam trước đây, Hàn Mạc Tử đă
được đưa vào chương tŕnh Văn
lớp 12 và một số nhà biên khảo về văn
sử học và ngữ học đă chú trọng tới các
văn kiện quốc ngữ do các tu sĩ TCG viết ra
từ thế kỷ 18, 19. Nhưng
nói chung th́ nền văn học TCG vẫn kể như
bị bỏ quên bỏ qua.
Sự bỏ quên bỏ qua này có nguyên nhân
chủ yếu là chính trị. Cộng đồng TCG
Việt Nam thường bị kết án là mở
đường và tiếp tay cho Pháp xâm lăng Việt Nam.
Một kết án chung chung đă trở thành định
kiến như thế làm cho các nhà biên khảo dễ có thái
độ:
- Coi cộng đồng TCG không có văn
học, tối đa là chỉ có sách đạo (hiểu là
sách giáo lư phổ biến nội bộ);
- Chấp nhận cộng đồng này có
làm văn chương học nhưng là "thứ thơ
văn bán nước" không đáng chú ư.
Nhưng phủ nhận th́ phủ nhận,
cộng đồng TCG vẫn hiện diện vẫn có
văn học nằm trong ḷng dân tộc và văn hóa
Việt Nam. Gần đây cộng đồng Việt
gốc Khmer và gốc Chàm ở miền Nam đâu có đông
đảo ǵ và văn học của họ lại viết
bằng ngôn ngữ khác, vậy mà chúng ta vẫn quan tâm nghiên
cứu. Do đó có nên đă đến lúc mở cánh cửa
đi vào thế giới chữ nghĩa của cộng
đồng TCG Việt Nam. Đạo Thiên Chúa hiện
diện trong dân tộc này khoảng trên dưới 300
năm: vậy khó thể t́m được trong họ
những Nguyễn Du, Nguyễn Đ́nh Chiểu và Trương Vĩnh
Kư là hiện tượng nổi bật,
hiếm có những điều đó không thể có nghĩa
là không có những đóng góp, chỉ chưa có nhiều
những công tŕnh nghiên cứu, kể cả ở phía
người Thiên Chúa giáo.
Cũng không phải chỉ có đóng góp
về chữ quốc ngữ như vẫn thường
được nghe nói, mà có lẽ chính lại là về kho
tàng chữ nôm gồm mấy chục ngàn trang nguyên văn
viết tay vào thế kỷ XVII được tàng trữ
ở các thư viện Âu châu. Kho Nôm Đạo này đáng
quư ở chỗ chưa bị sửa chữa như số
phận kho Nôm Đời đă bị các vua nhà Nguyễn
đặc biệt thời Tự Đức sau
định lại mà hiện nay giữ được
không c̣n ở t́nh trạng nguyên bản v́ thế kho Nôm
Đạo là tài liệu duy nhất hiện có của
chữ viết Việt Nam, thế kỷ XVII các nhà nghiên
cứu có thể t́m hiểu về nhiều phương
diện: lịch sử, văn học, xă hội học,
ngôn ngữ v.v... như nhóm Thanh Lăng, Vũ Văn Kính,
Nguyễn Hưng đang làm về một số
phương diện ngôn ngữ trong khuôn khổ cộng tác
với Ban ngôn ngữ Viện KHXH miền Nam.
Trong phần t́m hiểu miền Nam dựa
vào các tác phẩm bằng quốc ngữ mà chúng tôi làm ở
đây, những tài liệu Thiên Chúa giáo cũng rất quí -
Chẳng hạn t́m hiểu việc di dân lập ấp, làng
xă. Có thể t́m thấy những trường hợp
cụ thể khi đọc những tài liệu về
việc thiết lập các họ đạo, đă
được ghi chép một cách chính xác v́ địa danh,
thời gian, con người thực hiện.
Sở dĩ người Thiên Chúa giáo có
thể làm việc này một cách khoa học trước
hết là nhờ các thừa sai đă đem truyền
thống làm biên niên địa chí bên Âu châu thực hiện
ở Việt Nam. Theo chân họ là những người
Việt Nam được đi du học hoặc đào
tạo tận chỗ tiếp tục làm việc để
cho đến ngày nay.
Đạo Thiên Chúa ở miền Nam lúc ban
sơ.
Tạp chí "Nam Kỳ địa
phận" đă cho đăng một loạt bài
dưới nhan đề "Kể
lại gốc tích mỗi họ trong các sở địa
phận Nam kỳ". Loạt bài này gồm hơn 150
bài, đăng rải rác trong các số của tạp chí
trên, từ năm 1917 đến năm 1922 (Bản
tiếng Việt trong NKĐP có thể đă dựa trên
bản Địa chí bằng tiếng Pháp: Monographies ds chrétientés de la mission de Cochinchine occidentales
gồm 2 tập, đánh máy. Bản đánh máy này
được viết ra dựa trên nhiều tập ghi
những chứng từ kê khai kiểm tra từng họ
đạo viết tay. Bản đánh máy được ghi
thực hiện vào những năm 1910-1911. Toàn bộ tài
liệu này hiện lưu trữ tại Thư viện Ṭa
Giám mục Saigon).
Đây là một công tŕnh tập thể, theo
nghĩa mỗi họ đạo chịu trách nhiệm
điều tra và viết lên những ǵ liên quan đến
họ ḿnh, cho nên có họ viết rất đầy
đủ và phân minh rơ ràng, bản viết phải
đăng làm năm sáu số báo, như các họ
đạo Saigon, Tân Định, Chợ Lớn, hoặc
đăng làm 10 số như họ Bà Rịa, hoặc
đăng làm 23 lần trên 23 số báo như họ
Chợ Quán. Tuy nhiên mục đích của loạt bài này
đă được nêu lên ở bài đầu tiên như
sau: "Từ đây trong
"Nam Kỳ địa phận" sẽ lược
biên sự tích lập các sở trong Địa phận,
từ khởi sơ khai cho đến bây giờ, cũng
như là sử kư của Địa phận. Việc này
thật là rất hữu ích cho con nhà giáo hữu, v́ sẽ
biết đặng sự giảng đạo đă có trong
mỗi họ từ khi nào, và các việc đă xảy ra làm
sao. Lúc cấm kín hiểm nguy, thấy các đấng
giảng đạo phải liều thân bao nài khó nhọc,
chẳng nề chi mạng sống ḿnh, một lo mở mang
nước Chúa, cho kẻ ngồi trong bóng chết
đặng biết sự sáng thật, mà nhờ phần
rỗi ḿnh, lại ta cũng sẽ thấy đặng ḷng
đạo đức của tiên nhơn tổ phụ ta,
thờ chúa, kính mến, Đức Mẹ hết ḷng; và
thương mến, tôn trọng, tin cậy các đấng
giảng đạo là thế nào. Bởi đó, cho nên
dẫu có cơn bắt đạo đă nổi lên dữ
dằn, th́ đức tin các kẻ ấy cũng hằng
bền vững chẳng day, và lại càng tỏ rạng,
chẳng nói chi một ít kẻ non gan, dạ yếu,
bởi sự h́nh khổ, đ̣n bọng, mà đành ḷng
bỏ Chúa, chối đức tin, mà sau đó người
đă trở lại ăn năn, lập công đền
tội mà thường sự vụng dại trước.
Trong mỗi họ th́ sẽ kể
lại từ lớp cha nào làm cha sở các họ, và
lập các việc ǵ trong họ, và là khi nào, như nhà
thờ, nhà trường, nhà phước, nhà mồ côi v.v...
cùng những việc ǵ lớn lao đă xảy ra, đáng
ghi, đáng nhớ cho hậu lại, th́ đều sẽ
có kể lại"
(năm 1917, tr. 328).
Mục
đích các bài trong loạt bài này là như thế, nghĩa là
chỉ chú trọng vào việc kể lại cho biết
họ đạo đó có đạo từ năm nào, ai là
những giáo dân đầu tiên, linh mục nào coi họ lúc
đầu và những linh mục nào đă tiếp tục
coi họ đạo cho tới năm 1918 v.v... Tuy nhiên
đó đây cũng thấy ghi lại những sự
việc cho biết về bộ mặt xă hội hồi
đó, về cách sinh sống của dân cư "Nam
Kỳ" hồi đó, tại sao người ta ṭng giáo,
quan hệ giữa người có đạo và người
ngoại đạo v.v...
Và đó cũng là những điểm chúng
tôi muốn t́m hiểu.
Trước khi đi vào ba đề tài mà
người ta có thể nghiên cứu xuyên qua những
sự kiện được ghi lại trong loạt bài
kể trên (giới có đạo lúc ban đầu, - môi
trường xă hội - tôn giáo, - người công giáo và
chính quyền), chúng tôi thấy có mấy điểm đáng
nói sau đây:
- hết loạt bài này cho thấy sự
lưu tâm của giới công giáo hồi 1917 đă lo ghi chép
những biến cố và những sự kiện liên quan
đến Thiên Chúa giáo lúc ban sơ nơi các họ
đạo. Tính vụn vặt của các bài cho thấy
đây không phải là sử (mà tác giả cũng đă
chỉ nói "cũng là như sử kư Địa
phận"), mà chỉ là loại niên giám, thấy ǵ ghi
nấy, và ghi khi có đủ "lùi xa" về thời
gian để bảo đảm tính tổng quát và tính vô
tư. Nhưng các niên giám có giá trị của chúng, v́ chúng
được viết ngay hoặc rất gần với
thời gian xảy ra các sự việc. Nói thế v́
ngoại trừ một ít họ đạo có lâu
đời, như Chợ Quán
lối năm 1610, và Cái Nhum
lối năm 1588, c̣n đại đa số đều
mới thành lập vào hậu bán thế kỷ 19, chẳng
hạn họ Saigon năm 1859,
họ Tân Định năm 1861, họ Vĩnh Long năm
1862, họ Mỹ Tho (Vang Quới) năm 1886 v.v...
Vậy khi khởi sự ghi chép các sự
việc về các họ đạo này th́ con cháu của các
đấng tử đạo và của các linh mục coi
họ lúc đầu vẫn c̣n sống. Như vậy
người viết niên giám có thể gặp các chứng
nhân đă mắt thấy tai nghe các sự việc đó.
Chẳng hạn Á thánh Phêrô Dinh, quê Cái Nhum, c̣n người
con gái tu Ḍng kín Saigon; cha Lân coi họ Mặc Bắc hồi
Minh Mạng cấm đạo có người cháu vẫn c̣n
sống và làm chức việc trong họ, khi viết sử
họ Mặc Bắc năm 1917; và cũng năm 1917 ở
họ Mặc Bắc c̣n sống một bà già 70 tuổi, c̣n
thuộc bài ca dân làng mừng Á thánh Du khi ngài tới nhận
họ, hồi đó bà này c̣n nhỏ.
- Điểm thứ hai đă đánh
mạnh vào cảm nghĩ của chúng tôi là cảnh hoang dă
của miền Nam Việt Nam và của thành phố Saigon
cách đây một trăm năm. Đó là những nét ghi
phụ, những nét ngoại biên mà tác giả thấy
cần phải ghi để làm nổi bật những nét
chủ yếu của bài niên giám. Mấy ai nghĩ rằng
trước đây 100 năm, thành phố Saigon chỉ là
một làng nhỏ của người Cao Mên? Và mấy ai
nghĩ rằng trước đây 100 năm cọp vẫn
lai văng tự do bên khu Thị Nghè?
Dưới đây là một đoạn nói về Saigon: "Gốc tích thành Saigon buổi
trước thế nào th́ không biết cho rơ
được. Tưởng trước đời vua Gia
Long, th́ Saigon là một làng nhỏ thường của
người Cao Miên
ở mà thôi. Song trong lối năm 1680 th́ vua nh́ Cao Mên có trấn
tại Saigon một ít lâu. Qua năm 1789, sau khi vua Gia Long
đánh thắng quân Tây Sơn, cùng lấy lại Saigon, th́
mới lập thành lũy cho vua binh lính ở, có dựng
cột cờ giữa thành, là nơi gần chỗ nhà
thờ Đức Bà bây giờ. Vua Gia Long ở tại thành
ấy 22 năm... Đến năm 1811 vua Gia Long đóng
đô tại Huế, cùng đặt quan tả quân Lê Văn Duyệt
trấn tại Saigon, cho tới năm 1831 th́ quan lớn này
qua đời". (Năm 1918 tr.135-136. Và dân số thành
phố Saigon năm 1918 khi kết thúc thế chiến 1 là
như sau: "Số bổn đạo họ Saigon trong 10
năm rồi th́ không thêm bớt bao nhiêu, hết thảy
chừng 5.530 người, 4.000 người Tây, 800
người Ấn Độ (Chà Và), 700 người Annam và
30 người các chú. Mà từ năm 1914 th́ bổn
đạo Tây phải bớt nhiều, v́ phải tùng binh
nhập ngũ cùng là về quê hương mà trợ chiến.
C̣n dân ngoại th́ số chừng 45.000 người"
(Năm 1918, tr.182-183).
Đó là cảnh Saigon trước đây 100
năm. C̣n Thị Nghè c̣n đáng sợ hơn v́ beo cọp
về quấy phá bắt heo bắt chó thường
lắm. Dưới đây là đoạn nói về trường La-tinh (tức tiểu
chủng viện) lập ở Thị Nghè lối năm
1882: "Hai cái nhà lá cất
giữa đồng ruộng, đất thấp bùn
lầy, nước ṛng th́ đi dưới bùn,
nước lớn th́ phải xắn ống quần
lội. Lại cọp hùm hay lai văng, một phen bắt heo
của nhà trường mà ăn. Lại hễ có
động, quan quân tới bắt, th́ bỏ nhà mà chạy
trốn hết" (năm 1917, tr.550).
Xa Saigon về phía Lục tỉnh,
người ta lại càng thấy 2 điểm của
cảnh hoang dă và sự người Việt lấn
chiếm dần đất của người Mên, đâu
cũng thấy nói "trước th́ đây là đất
của người Mên, sau v́ người Annam đến
làm ăn th́ họ bỏ đi v.v...".
Chẳng hạn khi kể gốc tích họ
Cái Bông (Bến Tre), bản
niên giám viết: "Cả
phần đất thuộc Địa hạt Bến Tre, khi
trước là xứ của người Cao Mên, ai cũng
biết điều ấy, song không rơ người Annam
đă tới ở đó hồi nào. Bởi đă đem
nhau tới đông quá, cho nên soán đất của Cao Mên, như bây
giờ tại Trà Vinh cũng vậy, người Cao Mên phải
nhường lại lần đầu đất của
ḿnh cho Annam ở. Trong năm 1776 là năm giặc Tây Sơn
đánh lấy Đồng Nai; trong lúc giặc giă này
người Annam cũng cứ tới lấn ở trong
mấy xứ Cao Mên. Lúc ấy Đức thầy Vêrô
đă có lập trường học tại Cần Thơ
rồi, và cách ít năm sau th́ vua Nguyễn Ánh đă trốn
lên xứ ấy mà tị nạn. Vậy cũng trong lúc
loạn lạc ấy th́ có ba người có đạo
đă tới ở trước hết tại Cái Bông, con
cháu ba người này phần nhiều bây giờ c̣n lại
ở tại họ" (năm 1920, tr.443).
Về miền
Trà Vinh, bản niên giám cũng nói nhiều về việc
người Việt lấn đất của người
Mên. Chỉ xin trích 3 đoạn nhỏ sau đây:
Khi nói về họ
Chà Và, bản niên giám ghi: "Gốc
tích họ Chà Và th́ cũng giống như nhiều họ:
bổn đạo ngoài Annam (Trung Kỳ) và mấy tỉnh phía
bắc Nam Kỳ trốn cơn bắt đạo hồi
giặc Tây Sơn và giặc nhà Nguyễn, trong cuối
đời thứ 18, đă đến nương
đụt cùng làm nên một họ. Chà Và khi trước kêu
là Rạch Lập, trong đời Đức Thầy Vêrô
th́ đă có họ này... Vậy khi ban sơ tại Rạch
Lập th́ người Annam c̣n ở ngoài đất
giồng, một ít nhà ở phía trong mà thôi, v́ người Cao Mên c̣n ở
đông và làm ruộng một ít đủ độ
nhựt, c̣n bao nhiêu đất khác th́ là rừng bụi,
cỏ mọc hoang vu. Người tới ở
trước hết cùng lập nên họ Rạch Lập quư
danh là ông Bôn cùng thê tử, lại có người em ruột
là ông
Ngươn. Ông Bôn đă xin phép cùng nhà
nước Annam mà lập làng, lấy tên là Hậu Mỹ,
cái làng này rộng lớn và dài lắm... Ông Bôn xin lập
làng xóm như vậy đặng mà quy dân Annam về ở
cho đông, đặng sinh con đẻ cháu cho nhiều,
hầu khai phá đất mà làm ruộng nương, thế
cho người Cao
Mên đă rút bỏ đi, cho nên nhà nước
Annam bằng ḷng lắm, cho phép tức th́" (năm
1921, tr.22-23).
Về họ
Giồng Rùm: "Theo như
lời những kẻ cố cựu nói lại, họ
Giồng Rùm đă có hồi giữa đời Minh Mạng.
Gốc là 4 nhà có đạo ở miệt Bạc Liêu, Cà Mau
qua đó mà ở và lần lần quy nên một họ.
Mấy gia thất này tới ở tại Giồng
trước là đất của người Cao Mên và kêu là
Sốc Rùm, sau người Annam đổi là Giồng Rùm.
Vậy 4 người ấy xin phép quan mà lập làng là làng
Ḥa Hảo bây giờ, cùng kêu nhiều nhà có đạo
nữa tới ở, đặng khai phá đất mà làm
ruộng". (Năm 1921, tr.120-121).
Về họ
Trà Vinh, bản niên giám viết: "Họ Trà Vinh có từ khi lập tỉnh thành
tại đó tới giờ. Khi trước Trà Vinh là
một huyện thuộc về phủ Sóc Trang trong tỉnh
cựu Vĩnh Long. Sau khi nhà nước Langsa lập an
rồi mới lập Vĩnh Long làm tỉnh. Tại đây
khi trước th́ người Cao Mên ở mà thôi. Sau chừng có
người Tây th́ Annam mới tới, cho nên bây giờ
mấy làng xung quanh Trà Vinh th́ c̣n Cao Mên nhiều" (Năm 1921 -
tr.345).
Về cảnh hoang dă của miền
lục tỉnh, chỉ xin kể lại vài đoạn nói
về beo cọp hoành hành nơi những làng đă khá
đông dân cư, như họ Cái Nhum, họ Mặc Bắc
v.v...
Về họ
Cái Nhum, bản niên giám viết: "Trong năm 1865 và 1866 th́ cha Colombert (Mỹ) làm cha
sở, cùng đă dời nhà thờ và nhà phước về
chỗ bây giờ. Chỗ đó khi ấy là rừng bụi
mới khai phá nên cọp hùm c̣n lai văng, và một phen cọp
đă vô nhà cha sở bắt chó mà ăn nữa".
(Năm 1917, tr.358). Tại Cái Nhum có nhà trường La-tinh,
"trong nhà trường th́ có hồ nuôi cá nuôi sấu,
lại thường khi học tṛ có đi săn hưu nai
cùng là đi lưới dưới sông, đặng
kiếm thêm thịt cá mà ăn". (Năm 1917, tr.378).
Về họ
Mặc Bắc, bản niên giám viết: " (Khi ấy làng Long Định và
làng Tân Thành chưa có; dài theo sông lớn (Bassac) chỉ có làng
Ninh thới, cho nên làng này rộng đất mênh mông, mà
phần nhiều là rừng bụi, cọp hùm và những
vật dữ ở; c̣n người ta th́ ở rải rác
mấy đất giồng, cùng là ở dài theo mé
rạch" Năm 1917, tr.389).
Khi đă lập họ Mặc Bắc
rồi, th́ dân làm cho cha một cái nhà vuông "chỗ
khuất tịch trên rừng", v́ vua chúa bắt
đạo. "Nơi rừng bụi ấy cọp hùm
ở đầy, nên có kẻ hỏi cha: Ở vậy mà cha
có sợ không? Th́ cha trả lời rằng: Cha không sợ
cọp 4 chân, cha sợ cọp 2 chân mà thôi. Dầu cha nói
vậy, chớ cũng phải có bốn, năm
người chức việc ở với cha luôn"
(Năm 1917, tr.407).
Sau đó nhiều năm, khi cha Montmayeur
(Minh) coi họ Mặc Bắc từ 1864 tới 1874 th́ hèm
beo vẫn c̣n đầy. "Cha Montmayeur làm các việc
tại họ Mặc Bắc và mấy họ xung quanh. Cha
cũng lo cho bổn đạo khai phá đất mà lập
vườn ruộng. Cả làng miệt Cần Chông bây
giờ là vườn ruộng, chớ trước là
rừng bụi cọp hùm và những vật dữ ở
đầy. Cha cũng là tay săn bắn giỏi lắm,
cha bắn giết tại đó hơn 20 con cọp, hễ
cọp lai văng xung quanh nhà thờ th́ không thoát khỏi
đặng" (Năm 1917, tr.457).
Ngoài
phong cảnh xưa, loạt bài kể lại sự tích các
họ đạo này c̣n cho biết một số phong
tục ở Nam Kỳ, vài nét về một số nhân
vật lịch sử hay công tŕnh kiến trúc tuy có liên quan
đến đạo, nhưng đă trở thành một
công tŕnh công cộng...
Phong tục
+ Nhà của một ông trùm đạo vào
hạng khá giả ở Chợ Quán.
"Nhà trên nhà dưới cất kế nhau
ở giữa miếng đất, xung quanh có vườn
trầu cau cây trái nhiều, ngoài rạch có hai lớp hàng
rào, một lớp một lớp làu tán ở ngoài và một
lớp từ ở trong, có một đàng hẻm nhỏ dựa
mé rạch đi thấu vô nhà mà thôi; phía sau th́ giáp ranh
đất ông tổng Toàn, không có ngă nào khác nữa đi vô
nhà được, nên trong buổi cấm kín các cha tới
ẩn ngụ trong nhà đó thường lắm, mà ít ai
biết được.
Nhà ông trùm rộng răi, mà hai ông bà và
người nhà th́ thường ở nhà dưới, c̣n nhà
trên th́ đóng cửa luôn, một đôi khi có khách
trượng hay là có việc ǵ đại sự th́ mới
mở cửa nhà trên, theo tục lệ xưa th́ nhà nào
cũng vậy, đời nay cũng c̣n nhiều chủ
giữ cách ấy" (1909, tr.87-88).
+ Cách ăn mặc:
Tả cách ăn mặc của các linh
mục như người thường lúc cấm
đạo, vô t́nh tác giả cho chúng ta ngày nay biết
được cách ăn mặc của người Saigon
thuở xưa, thời Cựu Trào, lúc Tây chưa sang.
"Bởi đời xưa vua quan An nam
hằng bắt đạo luôn, nên các cha đời ấy
phải ăn mặc như người thường,
để tóc cùng với và bịt khăn đen, khăn
điều hay là khăn đà, các cha tây cũng vậy,
mặc áo thùng rộng tay, vạt xuống tới ngang
đầu gối, hoặc màu đen hay nâu đà, cùng là
mặc áo cặp trong trắng ngoài đen, đội nón
nhựa, cầm dù giấy, vắt đăy bộ (là hai cái
đăy có hai sợi dải dài nối nhau để vắt
ngang vai, tḥng xuống một cái trước ngực
một cái sau lưng trong đăy đựng trầu cau,
thuốc giấy) theo cách mấy thầy thuốc hay là
hương chức làng đời ấy, cho dễ dàng mà
đi nơi kia nơi nọ thăm viếng giúp đỡ
bổn đạo cho người ta đừng biết
ḿnh là thày cả". (1919, Chợ Quán, tr.56).
+ Cáp duồng:
"Tánh người dàng thô rất
đỗi khó ḍ; đang khi buôn bán đổi chác với
nhau tử tế, vụt đổi ư, nổi dậy
cả sốc, dao mác cung tên đem nhau ra xóm An nam ḥ hét cáp
duồng là đánh An nam, như việc đă xảy ra
đôi khi cho nên bổn đạo v́ lo sợ chuyện
như vậy mà ít dám làm ăn cho lớn, c̣n bổn
đạo họ khác nghe nói thế ấy th́ nhát gan không dám
tới ở" (họ Năng D́nh, địa sở họ
Tây Ninh, 1918, tr.712).
Di tích
lịch sử:
Kể sự tích họ đạo Chí Ḥa,
tác giả có nhắc đến Lăng Cha Cả "sau
Lăng Cha Cả, th́ có cổ tích tháp nhỏ dựng bên
đàng đi Thuận Kiều, nhắc lại một
trận cả thể binh nước Pha Lang Sa đánh cùng
ông Nguyễn Tri Phương tại đồn Chí Ḥa,
như thuật lại trong sử kư... Lại trong Chí Ḥa,
cũng gặp đặng nhiều mồ mả quan An nam
như mồ ông Trung Quân, cùng mồ bà Thái Mẫu,
không biết là mẹ vua nào, và có nhiều người sang
trọng giàu có chọn nơi Chí Ḥa mà gởi thân ḿnh (1919,
tr.9).
Nhà thờ chánh của họ Saigon.
Tác giả ghi chép cho biết diễn
tiến vụ xây cất nhà thờ này, từ thời
đầu "Đức cha Đôminicô đă sửa
một cái chùa bỏ mà làm nhà thờ, qua năm 1863, quan
nguyên soái thử sư Bonard có dạy cất một nhà
thờ gần chợ cũ, chỗ ṭa tạm tụng bây
giờ, mà nhà thờ ấy làm bằng cây hết, nên trong
chừng mười năm th́ phải mối ăn phá
hư cho nên qua 1874 cực chẳng đă phải dời
tạm nhà thờ vô tại pḥng mừng lễ nơi sinh
cũ của quan nguyên soái, là chỗ trường Taberd bây
giờ... 7-10-1877, Đức cha Mỹ đă làm phép viên
đá đầu tiên xây dựng nhà thờ và ngày 11-4-1880, th́
đă làm lễ khánh tân... Sau đó, tác giả mô tả
tỉ mỉ kiến trúc và trang trí bên trong nhà thờ (1918,
tr.180).
Nhân
vật lịch sử.
Bây giờ viết sử Nam kỳ thời
kỳ đầu Pháp thuộc, có thể tham khảo
loạt bài này để biết những chi tiết về
nhiều nhân vật đă đi vào lịch sử.
1. Trường hợp giết
Đốc phủ Ca.
- Đốc Phủ Ca linh cảm
trước sẽ bị giết: "Ngày 8-2-1885
Đốc phủ Ca tới xem lễ cha Thạch ở
tại Tân Hưng, Hốc Môn, rồi nói với con là
Trần Tử Dực, chỉ vào một khoảng
đất trống giữa hai cây xoài trồng phía sau nhà
thờ: "Cha muốn con chôn xác cha tại chỗ này, nên
bây giờ con hăy lo đào huyệt cho dần đi".
Trần Tử Dực buồn, thắc mắc v́ thấy
cha vẫn khỏe mạnh, nói chi đến mồ mả,
ông Đốc phủ rằng: "Mà cha nói cho con rơ, cha
muốn con chôn xác cha tại đó, v́ cha biết chắc
ngày giờ cha chết không c̣n bao lâu, lại con cũng
phải đào luôn hai cái huyệt, một cái cho cha một
cái cho mẹ con nữa".
Mà thật sự quan Đốc này thấy
trước th́ ứng nghiệm, v́ chiều ngày ấy, th́
người trở về Hốc Môn, và lối 8 giờ
tối th́ đă phải quân ngụy giết cùng đốt
phá nhà cửa tan hoang, c̣n bà Đốc th́ bị lửa cháy
mà chết thiêu trong nhà (1917, tr.583).
- Đốc phủ Ca trở lại
đạo, lo xây cất nhà thờ.
"Đốc phủ Ca khi c̣n làm
Hương Thân, đă trở lại đạo tại
Hạnh Thông Tây và cha Phước (Puginier) đă rửa
tội cho người cùng bà con người. Đến
năm 1863 th́ nhà nước cho người làm tri huyện
và cho lên trấn tại Hốc Môn" (1917, tr.647).
- Đốc phủ Ca bị giết,
vợ cũng bị chết cháy, cùng với nhà con cái
người, và một số nhà của ít bổn
đại. C̣n nhà thờ, nhà cha Sở, trường
học th́ cũng bị đốt sạch hết (1917,
tr.661).
+ Ca tụng Phan Thanh Giản:
"Lúc ấy vua Tự Đức đă
đặt một quan lớn có danh tiếng là ông Phan Thanh Giản
làm Tổng đốc Vĩnh Long, Người là một
trong hai quan sứ thần đă qua nước Lang-sa mà
lập tờ giao ḥa. Quan lớn này tánh hạnh thanh liêm,
ngài biết người phương tây văn minh thông thái,
cho nên đă muốn khuyên bảo con nhà anh em học chữ
tây. Quan này cai trị công chính lắm, lo lắng cho dân
sự đâu đó đặng yên hùng. Bởi vậy trong
lúc ngài trấn tỉnh Vĩnh Long th́ các bổn đạo
khỏi phải khó ḷng sự ǵ hết, đặng bề
giữ đạo thong thả, các quan không dám hiếp
đáp bắt buộc điều chi. Lại nữa
mỗi lần khi cha Quí tới viếng họ, th́ quan
Tổng đốc mời cha đến dùng bữa cùng
ḿnh, v́ ngài có ḷng kính trọng cha lắm. Và chính ḿnh quen
Tổng đốc cũng đă đi qua các miền có quân
lính hầu hạ rầm rộ, mà viếng thăm cha Quí,
cùng nây phép cho cha đặng xử các vụ những
người ngoại và có đạo kiện thưa
với nhau. (họ Vĩnh Long, 1919, tr.775).
+ Đời Tư Trương Vĩnh
Kư.
Cha Y ở Chợ Quán được
chừng một năm, th́ có sáu bảy thầy ở trong
họ đă hội hiệp với nhau mà tập hát lễ
tại nhà thờ họ, lúc ban sơ có ông Đốc Kư và
thầy Tư viết, đánh đờn hát lễ một
ít lâu (thầy Tư viết bây giờ làm Tri phủ)
(Họ Chợ Quán, 1919, tr.200).
Sống đạo dưới
thời Cựu trào và Tân trào.
1.
Thời cựu trào:
Những năm tháng được tự
do giữ đạo rất ít và ngắn ngủi không
thấy ghi lại cách sống đạo trong những
thời gian đó. Trái lại đă ghi khá rơ, đậm nét
cách sống đạo trong những thời kỳ
"cấm đạo" hạn chế và "cấm
đạo" ngặt nghèo gắt gao. Đó là thời
kỳ "sùng đạo chúa" không công khai, bất
hợp pháp.
Linh mục ngụy trang.
... "Hễ khi có ai muốn đi kẻ
liệt th́ cha bận áo cũ mèm, vá bậy bạ
đầu đội nón lá như mấy chú ruộng
rẫy vậy, c̣n áo các phép dây Stola, đầu thánh th́
bỏ trong thúng, trên th́ chất cau, trầu, biểu một
người đờn bà đội đi, giả như
kẻ đi buôn bán vạt vậy" (1917, tr.408).
... "Có cha th́ giả là người đi
buôn bán dạo, khi nào muốn đi đâu th́ xếp
đồ lễ, ảnh tượng, sách vở gói trong mo
cau, rồi sắp đồ dưới gánh, c̣n trên th́
chất thuốc bánh hay là trầu cau cùng là đồ ǵ
khác, rồi mặc áo vắn ra đi với một ông
Biện, hay là với một đứa học tṛ cũng
mặc đồ vắn, thầy gánh một gánh, tṛ gánh
một gánh, thiên hạ thấy tưởng là đi buôn bán
dạo mà thôi, chẳng ai dè đó là thầy cả. Lại
cũng có một đôi khi quan chức họ hay là bổn
đạo phải đưa Đức cha hay là các cha
ở họ này sang qua họ khác cách xa nhau mà phải đi
đường sông, th́ bổn đạo bày đồ
trận dọn ra giả là ghe đám cưới hay là ghe
đám xác mà đi cho khỏi bị mấy đồn thú
ở dọc sông bắt ghé lại mà xét, v́ đời
cựu trào không có tra xét những ghe đám cưới hay là
đám xác, đi dọc đàng. Hoặc có khi dọn hàng hóa
giả là ghe đi buôn bán, rồi khi đi tới mấy
khu có đồn thú, th́ giấu các cha ở dưới
khoang ghe, hay là sau buồng lái hoặc nhắm lúc bắt
bớ nhặt lắm, th́ có một đôi khi phải
để các cha nằm trong buồm mà cuốn lại, cho
đặc trẩy qua mấy nơi hiểm nghèo nữa
(1919, tr.57).
Nhà thờ ngụy trang.
... "V́ sợ quan quân biết, cho nên xung
quanh kề nhà thờ th́ bổn đạo cất trại
để đồ dệt tơ lụa, cùng đồ
ươm kén để tằm, những xát lá dâu, phân
tằm th́ đổ bậy xung quanh đó, nên không ai
biết là nơi có nhà thờ, quan lính có tới th́
tưởng là trại để tằm cùng dệt tơ
lụa mà thôi" (1917, tr.408).
"Nhà thờ mới này phía ngoài cũng làm
như là nhà để nuôi tằm và dệt tơ lụa;
hễ khi có cha tới, th́ tối lại dẹp mấy giàn
để tằm cho bổn đạo tựu đến
và cha ngồi ṭa, làm phước, giảng dạy cùng làm
lễ cho ai nấy xem, sáng ra th́ sắp đặt các
đồ nghề tằm tơ lại như cũ"
(1917, tr.428).
Không nhà thờ nhà xứ.
Thường là không có nhà thờ, nhà xứ:
"Từ năm 1835 cho tới 1859. Chợ Quán không có nhà
thờ, không có nhà cha sở, cho nên các cha phải ngụ
trong bổn đạo, khi tới nhà này khi qua nhà khác ở
nhà nào th́ nhà ấy lo việc cơm nước cho cha dùng.
Các cha tới ngụ nhà nào làm lễ trong nhà
ấy. Làm lễ th́ làm hồi một hai giờ khuya, không
dám để tới sáng, mà hễ bổn đạo nghe nói
có cha làm lễ ở đây, th́ lén rủ nhau đi tới
đó hồi canh tư, xúm xít ở ngoài hè, chờ cho trong
nhà thức dậy thắp đèn bàn thờ cho cha làm lễ
th́ mới vô nhà xem lễ. Mỗi lần đi xem lễ
như vậy th́ được chừng vài mươi
người lớn, thường không cho trẻ nhỏ
đi theo, v́ con nít biết có cha làm lễ nơi nào, rồi
nó không kín miệng, nói vấy ra người ngoài hay khó ḷng
lắm (con nít hay là trẻ nhỏ đời ấy là
từ 17 cùng là 18 trở xuống (1919, tr.57).
Sống đạo Chúa.
"Bổn đạo đời ấy
sốt sắng lắm, chịu hao tổn cho làng xóm
ngoại chẳng tiếc của, miễn là đặng
ở an giữ đạo mà thôi. Tối sáng th́ mỗi nhà
đều đọc kinh chung với nhau, nhiều lần
làng xă cùng là kẻ ngoại ở phía trước nhà la
rầy, biểu đừng đọc lớn mà những
người ngoại ghét đạo th́ cáo báo cùng quan
chăng. Hễ khi có cha tới làm phước cho họ,
th́ đâu đó mỗi chỗ đều có đặt
người coi chừng, kẻo quan lính đến th́nh ĺnh
chăng, đi xem lễ đọc kinh th́ cũng phải
trốn lánh đợi đến đêm hôm đi khuất
theo hàng rào kẻo người ta thấy, con nít nhỏ
hễ nghe cha mẹ nói đi xem lễ đọc kinh th́ ham
lắm, cha mẹ sợ khó ḷng không dám dắt theo, th́ có
đứa nài nỉ xin bà con đem ḿnh đi xem lễ cho
được" (1917, tr.13).
Cảnh khủng bố.
Phân sáp: ... "Trong sắc chỉ vua
dạy làng tỉnh phải nạp số giáo hữu từ
15 tuổi sắp lên bất luận đờn ông
đờn bà, rồi bắt hết thảy đem tới
tỉnh mà thích tự hai bên bàn tang, một bên thích hai
chữ tà đạo, c̣n bên kia thích tên tỉnh, pḥng khi có ai
trốn đi đâu, thiên hạ thấy mặt th́
biết, chẳng chạy lọt ngả nào
được, đoạn bắt phân sáp ra đi các làng
ngoại, dân ở xứ này đẩy đi xứ khác, c̣n
nhà cửa ruộng đất của bổn đạo,
th́ về tay làng tổng ngoại đoạt lấy".
Thực ra chỉ ở miệt Biên Ḥa và Bà
Rịa là thi hành theo chính sách trên như ở miền
Bắc, Trung. Ngoài ra c̣n nhốt giáo dân trong ngục, xung quanh
th́ chất bồi sẵn, chờ khi binh tây tới gần
th́ đốt ngục thiêu sống bổn đạo. C̣n
vùng Gia Định th́ nhẹ nhàng hơn nhiều,
người ghi chép cho biết quan chỉ bắt bổn
đạo lên đồn điểm danh, một tháng
một lần, rồi cho về. Lúc đầu, bổn
đạo Chợ Quán c̣n đi đủ số, sau cứ
mất dần. Rồi có lần th́ sau khi tŕnh diện
điểm danh bị giữ lại đem đi phân sáp
nhưng "những bổn đạo bị lưu
đầy đi các làng, th́ cũng một hai chỗ
phải chịu cực khổ, c̣n nhằm chỗ
hương chức làng tử tế, th́ để cho
bổn đạo ở thong dong, không bắt buộc
sự ǵ, trừ ra khi nghe quan tỉnh đến, th́
mới biểu mang gông ngồi hàng theo phép, cho làng khỏi
bị quan quở phạt mà thôi". Sau 8, 9 tháng, th́ có
lịnh quan trên đ̣i hết thày tựu về tỉnh cho
đặng ơn tha thứ: "Nay ta lấy ḷng
thương ân xá tha về mà phải cứ an cư lạc
nghiệp, đừng theo tây mà phải chết. Vậy
bổn đạo đặng tha về, th́ ai nấy
đều vui mừng quá bội, và hết ḷng cảm
ơn Chúa" (1919, tr.153).
Vụ tàn sát ở Bà Rịa.
Đây là vụ tàn sát khủng khiếp
nhất, đă được người ghi chép rất
kỹ, tỉ mỉ theo thứ tự đoạn
điều: Đoạn thứ nhất nói về
địa sở Bà Rịa trong cơn bắt đạo
từ năm 1861 cho đến năm 1863. Đoạn
thứ hai, nói về các bổn đạo ở tù,
địa thế bốn cái tù.
Điều thứ I nói về khởi
sự bắt đạo, lấy sổ người
bổn đạo. Điều thứ ba nói về sự
gian truân tân khổ kẻ có đạo khi phải giam
cầm trong tù; Điều thứ tư, nói về
đốt 4 cái ngục 444 người có đạo
phải chết thiêu (ngày mồng 7 tháng Janvier năm 1862).
Điều thứ 5, nói về một ít tháng b́nh an;
Điều thứ 6, nói về bổn đạo phải
chịu chém giết lần khác nữa.
"Hồi ấy th́ là trúng nhằm mùa
mưa, là tháng Septembre 1961, tù th́ nó bắt nằm
dưới đất ướt át trong mùa mưa như
vậy, nên có nhiều mang bệnh mà bỏ ḿnh, nó không cho
đi đâu hết nới ra một chút, đi sự
cần cũng không cho, phải mướn mấy
đứa nhỏ đi đổ xức xổ. Vậy
trong tù thế ấy th́ là hôi thúi quá, nên sinh bệnh,
ước chớ chi chết th́ là hồn sống mà
cực thời qua...".
Trong ngục giam 300 đàn ông, lúc bị
đốt, chỉ chạy thoát được chừng
mười hai người v́ ai liều chạy qua lửa
th́ cũng bị lính cầm giáo xô vô lửa, c̣n ba cái
ngục khác cầm tù đàn bà, con nít th́ riêng ngục Long
Kim, đờn bà chết nhiều hơn: "v́ có một
tên đội giữ ngục nó tham của bất nhơn,
nó muốn cướp lấy ṿng vàng của mấy
đờn bà, nó không cho chạy ra, cho đặng nó lột
đồ, nên chạy ra không kịp phải
chết...".
... Sau vụ tàn sát trên, quan lính c̣n trở
lại kiểm soát một lần nữa người có
đạo "Ban đầu giặc tới họ Gô
Sấm trước v́ họ này ở xa Bà Rịa hơn
hết, nó bắt đặng hai mươi người
bổn đạo đờn ông đờn bà th́nh ĺnh
đang có gặt lúa, bắt rồi nó dẫn ra tại
cầu suối Xích Răm, hay là sông Rai, nó trói buộc hai
người về một mà xô xuống sông, nên phô kẻ
ấy chết ch́m hết.
... C̣n họ Thân th́ cũng phải chết
nhiều, quân dữ nó giết họ Thân một cách dữ
tợn quá, hễ nó bắt đặng bổn đạo
th́ nó quăng sống xuống giếng, mà phải biết
giếng xứ ấy th́ sâu lắm, chừng 8, 9
thước tây (1917, tr.775-791).
2.
Thời Tân Trào.
"Cho đến khi nhà nước Lang Sa
soán tỉnh Vĩnh Long th́ mới đặng an, bổn
đạo không c̣n sợ bắt bớ ǵ nữa, các cha
không c̣n phải trốn tránh ẩn ḿnh. Khi ấy Cha Công làm như
một quan lớn, hễ có đi ghe th́ là ghe hầu, có
cờ, có đội lính theo, thường là mấy bổn
đạo tại họ. Trùm Nhiêu là con Á thánh Guise Lựu
làm đội nhứt. Chủ Dưỡng làm đội
nh́ v.v... Bấy giờ th́ không sợ ǵ hết, v́ biết
rơ nhà nước Lang Sa binh vực các nhà có đạo, cho
nên trong họ bổn đạo lập cơ lính,
đặng mà tiêu trừ quân hung hăng nguy nghịch cùng
nhà nước Lang Sa, và lo canh giữ trong họ khỏi
chúng nó phá phách (1917, tr.429).
Ư kiến đối với nước Pháp
chiếm Việt Nam.
Nhân nói về Lăng Cha Cả, người
ghi b́nh luận: "Lăng ấy làm chứng cho các
người ngoại giáo cùng kẻ vô đạo, các
thầy đạo Thiên Chúa chẳng đến đây, mà
cướp nước Annam, như làm tiên sứ hậu
b́nh đâu, song khi có thể đặng th́ tận tâm
tận lực mà pḥ vua vực nước, lo cho nhà
nước được thơ thới thạnh trị,
như thấy được trong sử kư Nam Việt
quốc triều nói về Đức thầy Vêrô cùng các cha
và bổn đạo lo giúp vua Gia Long khử trừ quân Tây
Sơn, mà phục quốc lại. Mà hẳn thật nhà
Nguyễn từ vua Gia Long đặng trị v́ Annam lâu
năm, là tại nhờ công nghiệp Đức thầy
Vêrô cùng bổn đạo mà chớ. Bằng v́ sự
nước Phalangsa đă chiếm cứ nước Annam,
là tại vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị, cùng Tự
Đức đă bắt bớ đạo Thiên Chúa mà ra"
(1919, tr.9).
Nhận
xét
1. Người theo đạo Thiên Chúa ở
miền Nam cũng là lưu dân, đi khai hoàng, lập
ấp, làm ăn buôn bán, đôi khi giàu có, sống trà trộn
với người lương, không phải là hạng
ngoại đinh, sống bên lề xă hội như
người theo đạo Thiên Chúa ở đồng
bằng sông Hồng. Về động cơ theo
đạo, loạt bài ghi sự tích các họ đạo
không nói đến những nguyên nhân sâu sắc nào, chỉ
kể những trường hợp chịu ân, hoặc
cảm mến mà theo đạo, sau này v́ lư do chính trị,
sợ tây bắt bớ, nên đă có hiện tượng
trở lại đạo tập thể, nhưng khi
biết rơ không c̣n sợ tây bắt bớ nữa, th́
cũng bỏ đạo tập thể.
2. Ở miền Nam, loạt bài ghi sự
tích cho thấy thái độ khoan dung rơ rệt của dân
chúng ngoại đạo và vua quan gốc miền Nam.
Những vụ đối xử gắt gao, tàn bạo,
tội ác thường được ghi là do quân quan
từ ngoài Huế vào. Tuy nhiên sự khoan dung dễ dăi
nầy, cũng một phần v́ được người
công giáo đút lót, hối lộ chút ít.
Điều đáng lưu ư là không hề
thấy nói đến hiện tượng bắt bớ
xung đột lương giáo mà không phải do quan quân,
chính quyền gây nên, như ở miền Trung, miền
Bắc, do Văn Thân chủ xướng. Tập kư nói rơ
nhiều nơi giáo dân là công giáo Huế, đặc biệt
vùng B́nh Định chạy trốn Văn Thân vào Nam trú
ngụ đều được giữ đạo an
ổn.
3. Đời sống tôn giáo của
người theo đạo Thiên chúa thời Cựu Trào và
Tân Trào.
Loạt bài kể lại sự tích có tính
cách ghi chép sự việc, có sao nói vậy, không theo một
hệ thống nào, không phải là một bài khảo
cứu nhằm giải thích cắt nghĩa nguồn
gốc, nguyên nhân sự kiện, nên đọc thấy khá
khách quan, có vẻ thật thà cho biết đời sống
của người công giáo thời kỳ này là thế nào.
Đây là cuộc sống của những người nông
dân cần cù lương thiện, lo khai hoang làm ăn và
chỉ mong được giữ đạo, tôn trọng
phép nước, ngay cả khi gặp khó khăn bắt
bớ cũng không hề nghĩ đến tổ chức
làm loạn. Với những tâm t́nh, thái độ như
vậy, nếu sống trong một t́nh h́nh chính trị xă
hội ổn định th́ chắc không gặp khó khăn
ǵ. Nhưng những người Việt Nam đă theo
đạo Thiên Chúa vào một thời kỳ đầy xáo
trộn về chính trị và xă hội do cuộc nội
chiến ác liệt kéo dài, chưa chấm dứt đă kèm
theo mối họa xâm lược từ bên ngoài mà kẻ thù
lại có liên hệ về tín ngưỡng với
người công giáo, nên không lạ ǵ họ đă gặp
nhiều khó khăn thử thách đẫm máu. Lấy ví
dụ họ Ba Giông (Tân An) được thành lập
từ đời vua Minh vương (1700) đă gặp khó
khăn về đạo. Ba Giồng là khu rừng rậm,
nên người công giáo từ Phú Yên tới và cả vùng Saigon,
Biên Ḥa xuống lo khai phá rừng, cày cấy ở một
vùng các quan không hay biết để đặng sống và
giữ đạo b́nh an. Năm 1783, Gia Long bị Tây Sơn
rượt bắt, ẩn lánh ở họ này ít lâu,
được đón tiếp hậu đăi nên đă
thưởng công ban cho bổn đạo quyền làm chủ
vĩnh viễn đất ruộng họ đă khai phá.
"Nhưng mà ḷng rộng răi của bổn đạo
với vua chánh ḿnh th́ đă nêu cớ thiệt hại to, v́ sau
khi vua Gia Long đi rồi ít ngày th́ có quân Tây Sơn tới
kiếm t́m vua, mà thấy vua đă thoát khỏi tay chúng nó,
th́ chúng nó giận giữ lắm và báo thù bổn đạo
đốt hết nhà cửa tại họ cùng sát hại
hết 150 người". Qua đời Gia Long trị v́
th́ được b́nh an, nhưng đến Minh Mạng
lại gặp khó khăn. Quân lính đuổi bắt
người có đạo, bắt được ai th́
giết hết, những ai chạy trốn được,
sau v́ mệt sức, đành chịu để cho bắt
th́ bị gia h́nh độc dữ rồi quăng xuống
hồ cho chết ngạt. Số người bị tàn sát
là 1700 người. Sau c̣n bắt bớ, người
ngoại ở các làng bên cạnh đến soán lấy
ruộng đất của bổn đạo.
Cuối năm 1869, Pháp chiếm
được Mỹ Tho, quân triều đ́nh chạy
trốn, bổn đạo c̣n bị 20 đến 25 năm
nữa bị giết rồi mới được an
ổn (1918, tr.448).
Bây giờ chúng ta thử t́m hiểu xuyên qua
những nét tạp ghi của các bài niên kư, xem những
người Thiên Chúa giáo buổi đầu ở miền
Nam là những người thế nào, họ đă sinh
hoạt thế nào trong cộng đồng xă hội,
dưới thời "cựu trào" và "tân trào"
v.v...
A - Những
người Thiên chúa giáo
đầu tiên ở
miền Nam
Hai họ có đạo sớm nhất là
họ Cái Nhum và họ Chợ Quán. Xét chung, miền Nam có đạo rất
sớm, vào đầu thế kỷ 17, số giáo dân đă
tính được mấy chục ngàn. Theo sử liệu
"La Cochinchine
reli-gieuse" của Louvet viết và được trích
dẫn trong "Nam Kỳ địa phận" năm
1919, th́ "Trong năm 1639,
Địa phận Nam Kỳ, Trung kỳ và Cao Mên, khi đó c̣n
thuộc về một Đức cha cai trị, nhơn
số bổn đạo kể được 82.000, th́
năm ấy nội lục tỉnh nam kỳ có ít nào
cũng là ngoài 20.000 bổn đạo" (năm 1919,
tr.23).
Những ai đă lập nên các họ
đạo? Những ai là
giáo dân đầu tiên đứng quy tụ anh em bổn
đạo lại thành các họ đạo? Những
họ mới lập sau này, cuối thế kỷ 18, th́
người ta có thể biết rơ. C̣n những họ
kỳ cựu như Cái Nhum, Cái Mợn, Chợ Quán v.v... th́
sử sách không thấy ghi.
Về họ Cái Nhum, bản niên giám
viết: "Gốc lập họ này là thuở
đầu, lúc mở việc giảng đạo tại
Nam Kỳ, khi ấy c̣n thuộc về phần nước Cao Mên. Trong
giữa đời thứ 16, những cha ḍng Đôminicô
người Buttughê (portugais, Bồ Đào Nha) ở bên
Malacca đă tới giảng đạo tại xứ này. Cuối
đời thứ 16 lối năm 1588 có những cha ḍng
Đôminicô người Hiphanho (Tây Ban Nha) ở tại Manille
đă sang giảng đạo tại Tonkin (Bắc Kỳ)
và cũng có vô Nam Kỳ... Cho tới cuối đời
thứ 17, sau cơn bắt đạo dữ dằn từ
năm 1661 tới năm 1665 th́ mới biết rơ
đặng Cái Nhum là nơi chính việc giảng
đạo tại Nam Kỳ... Trong đời vua Gia Long,
nhiều người bổn đạo già cả có nghe nói,
lúc ấy nước Cao
Mên có giặc, nên có nhiều người Cao Mên chạy
tới Cái Nhum và phải bị bắt cầm. Những
người phải kẻ ngoại bắt bớ th́ chúng
nó chôn sống theo mồ mả, đặng làm bộ
hạ cho ông bà cha mẹ chúng nó trong mồ. C̣n những
người Cao Mên
nào đặng về tay kẻ có đạo, th́
đặng cho ăn, sắm mặc, ấm no, cho nên chúng nó
đều theo đạo, và lập gia nghiệp. Bởi
vậy có ít kẻ c̣n biết đặng đâu
người An nam và Cao
Mên đă phối hiệp cùng nhau mà sinh con cháu
kế hậu tới bây giờ, cũng như người
Mại và người An Nam phối hiệp cùng nhau như
sẽ thấy sau" (N.K.Đ.P.N năm 1917, tr.329).
Đoạn văn trên đây cho thấy 2
điều: nơi những làng cựu, như Cái Nhum, dân có
đạo ở chung đụng với người
ngoại đạo, nhân đó mới có dịp để
người ngoài bênh cho kẻ có đạo: người
ngoại cho các linh mục ngoại quốc trốn ẩn
trong nhà, và c̣n cất giấu ảnh tưởng cho
người có đạo, như sẽ thấy
dưới đây. Điểm thứ hai là tính đa
tạp của dân cư, gây nên sự hợp chủng
giữa người Việt, người Mên và
người mọi ở miền Nam này.
Đó là khi người có đạo ở
trong các làng cựu, nhưng nhiều khi họ xin lập
ấp lập làng mới để ở với nhau cho yên
ổn. Chẳng hạn như họ Mặc Bắc:
"Họ Mặc Bắc đă lập trong
đời vua Gia Long lối năm 1776 hay là 1778... Vậy có
hai người đạo đạo là Nguyễn Văn
Dươn kêu là cả Dươn, v́ người đă
lập làng Long Định và Nguyễn Văn Sách cũng là
ông cả... Dân ở mấy giồng không có tiền bạc
mà đóng thuế cho nhà nước, nên chúng nó đành bán
bạ cái giồng lại cho cả Dươn và cả
Sách, giá là 300 quan tiền... Mua mấy giồng xong rồi,
cả Dươn và cả Sách trở về nhà đều
huề thê tư với bà con, cùng rủ ít người có
đạo tới đó mà ở, hết thảy chừng
30 người... Ban đầu th́ số bổn đạo
thêm lần lần cũng lâu lắm, v́ hễ có sinh con cái
ra th́ mới tăng số, c̣n kẻ ngoại ở xung
quanh đó trở lại đạo không bao nhiêu. Cho tới
năm 1840 th́ mới thêm số đặng mau, bởi có
nhiều người giáo hữu ở các họ khác tới
đó mà ở... Bổn đạo các nơi đem nhau
tới ngụ tại Mặc Bắc là bởi đó có
cớ bắt đạo, mà tại họ nầy th́ các giáo
hữu đặng ở an, khỏi lo sợ sự ǵ".
(năm 1917 tr. 389-390).
Gốc tích họ Tân Định cũng do
một sự lập ấp như vậy.
"Trước năm 1860 th́ chưa có họ nầy.
Vậy lôi năm ấy có vài gia thất có đạo
số chừng 30 hay là 40 người, trốn cơn
bắt đạo mà đến Saigon cất nhà cửa
ở gần xung quanh hào vách thành, chỗ kêu là Cửa
Hữu. Có một cái nhà cũ cột cây trên lợp ngói
để làm nhà thờ. Cha Bề trên Vị (P. Wibaux)
cũng là Bề trên trường la tinh khi ấy, mỗi
ngày thứ bảy cùng là ngày áp lễ cả th́ đến
ngôi ṭa làm phước, cùng làm lễ các ngày lễ cả và
chúa nhựt tại đó cho bổn đạo xem. Qua
năm 1861 có nhiều gia thất có đạo ở bên
Cầu Bông, số chừng 100 người, qua ở
tại chỗ đất nhà nước, ở giữa nhà
thờ bây giờ là rạch Cầu Kiệu, cùng lấy tên
là họ An Ḥa. Năm sau là 1862 th́ số bổn đạo
tới ở tăng thêm nữa..." (năm 1918, tr.215).
Gốc tích họ Giồng Nghệ, tổng
Dương Ḥa
Hạ, tỉnh Gia Định cũng theo
lối đó. Bản niên giám viết: "Ông Nguyễn
Văn Bổn là đạo ḍng ở họ Lái Thiêu về
Saigon ở gần kinh Chợ Vải, anh ruột
người là tổng Sáu ở Lái Thiêu, có một em gái
ở Nhà phước kín. Năm 1880, tổng Dương Ḥa Hạ
khuyết người làm cai tổng, Minh-ghê Bổn (Minh-ghê
= Michel) khi ấy làm ban biện, nhờ ơn quan trên cho lên
chức cai tổng. Lănh bằng cấp rồi đem
vợ con về ở làng Đức Hưng, gần vàm Rạch
Mương Tổng Tấn. Chỗ ấy là rừng hoang
của làng; ông xin phép quan khai phá và làm chủ. Trong làng
ấy không có người nào có đạo, ông Bôn kêu rủ
bà con có đạo, người ở họ Tân Quí, kẻ
ở họ Lái Thiêu, người ở Cầu Bông và
Thủ Thiêm tới đó ở, chia đất rừng cho
mấy người ấy khai phá, và giúp tiền giúp lúa
ăn. Ông cũng giúp người ngoại trong làng cùng an
ủi học đạo. Bởi ông có quyền thế,
lại cách ở hai vợ chồng được
người ta thương mến, và vưng phục.
Vậy ban đầu th́ có chừng năm bảy nhà có
đạo, số nam nữ lớn nhỏ chừng 20
người; lại ba bốn nhà châu nhưng chừng 15
người. Hai ông bà cất nhà thờ tạm bằng lá,
kêu là nhà thờ tổng Bôn. Cha già Tuyết ở Mĩ
Hội lên xuống làm lễ, làm phước và giảng
dạy. Năm 1884 Đức cha sai cha Bề trên Thi (P.
Thiriet) đến ban phép xức trán tại nhà thờ
Giồng Nghệ. Lúc ấy người ta càng ngày càng thêm
số, ruộng nương vỡ ra đâu th́ cày cấy
đặng mùa. Nhơn số có đạo cũ và đạo
mới nam nữ lớn nhỏ chừng 100
người". (năm 1918 tr.438).
Bây giờ thử t́m hiểu v́ những lư
do nào người ta đă trở lại đạo. Bản
niên giám không nói ǵ về những người Việt
trở lại đạo hồi thế kỷ 16, khi các
linh mục Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha khởi sự
giảng đạo trong xứ này, ở Cái Nhum chẳng
hạn. Chúng ta chỉ dựa vào các bản niên giám
để rút ra những trường hợp sau đây:
- Trước hết là trường
hợp những người ngoại đă cảm phục
đức bác ái và đạo của người có
đạo. Đó là trường hợp những
người Cao Mên
chạy giặc mà rơi vào những nhà có đạo ở
Cái Nhum, như ta vừa đọc trên đây. Đó c̣n là
trường hợp những người ngoại sống
trên đất của ông Bôn, tức tổng Bôn họ
Giồng Nghệ trên đây. Họ cảm mến
đức độ của ông bà Bôn và theo đạo.
Đoạn niên giám sau đây nói rơ hơn
về một trường hợp điển h́nh khác.
"Lối năm 1888, nhà thờ (Tân An) th́ rộng lớn,
con số bổn đạo tại họ khi ấy
chừng bảy tám mươi mà thôi. Khi ấy nhờ có cha
Bề trên Thi quen biết với bà thầy Ngọc ở
Tân An. Bà này yêu mến cha lắm, nên vưng lời cha
dạy mà lo việc mở mang giảng đạo Chúa cha
những tá điền thổ ngoại của bà,
đặng trở lại đạo. Việc khởi
đoạn thật rất là khó, nhưng mà bà Ngọc
chẳng ngă ḷng, một rán sức hết ḷng mà lo, phải
hao tốn cũng chẳng tiếc, cho nên nhờ ơn Chúa
ban đầu có vài gia thất tỏ ư chịu học
đạo. Cha bề trên Thi bèn vui mừng mà đi tới
viếng, cùng cho thầy xuống Tân An khởi việc
dạy chầu nhưng tại B́nh Cư, nhiều
người ngoại khác cũng tới nghe coi dạy
đạo thế nào, trong ít ngày đă đặng ơn
Chúa đoái xem, nên gần hết thảy đều xin
học đạo. Những tá điền của bà
Ngọc tại B́nh Quân cũng đều theo gương
mấy người ở B́nh Cư mà xin trở lại
đạo, cho nên phải sai thêm nhiều thầy tới dạy
mới đủ. Sau đó, tại Nhơn Hậu những
tá điền của bà Ngọc cũng xin học
đạo" (năm 1918, tr.503).
- Những
người ngoại trở lại trên đây (mục a)
thuộc giới b́nh dân. Có thể họ là đa số.
Nhưng cũng có nhiều người ăn học, có
chức quyền thuộc "cựu trào", nghĩa là
thuộc "triều đ́nh An Nam" hồi đó.
Đây chỉ xin ghi lại mấy trường hợp
điển h́nh:
Trước hết là trường hợp
ông Tuấn (họ Thủ Đoàn, Tân An). "Ông huyện
nầy giàu có, thần thế, mà có ḷng ngay chính. Mấy
lần cha Đoan tới thăm ông huyện th́ hản tánh
ư người, cho nên cha trông cậy sẽ làm cho ông
huyện đặng thấm sự sáng đức tin vào
ḷng. Mỗi lần cha tới viếng th́ người hay
căi lẽ đạo với cha, như vậy qua nhiều
tháng mới làm cho người chịu thua mà bỏ bụt
thần dối trá... Con trưởng nam của ông huyện
là cả Lănh ở B́nh Nghị (bây giờ làm ông trùm tại
họ Trà Lồng) đă theo gương cha ḿnh mà trở
lại đạo. Kế đó th́ các con cháu ông huyện
cũng đều xin vô đạo hết" (năm 1918,
tr.535-536).
Trường hợp điển h́nh thứ
hai là trường hợp thầy cựu cai tổng
Huỳnh Viết Thơ, họ Giồng Miễu,
địa sở Cái Mông. "Trong năm 1871 có thầy
cựu cai tổng tên là Huỳnh Viết Thơ xin cùng cha
Bề trên cho cha tới ở dạy đạo. Cha Trí
tới coi họ nầy dầu hết, nhờ khoa ngôn
ngữ cha giảng dạy, trúng lư lẽ nho tự rơ ràng làm
cho nhiều người hay chữ đặng trở
lại đạo, và đem một ít người có
đạo mà đă bỏ trôi nổi tới đó,
đặng trở về dàng chính: tính được
hết thảy chừng 20 người. Khi ấy chưa có
nhà thờ nhà cha sở, th́ tạm nhà thầy cựu cai
tổng Thơ làm nhà thờ, và cha cũng ở tại
đó". (năm 1921, tr.457).
Thứ nữa là trường hợp
thầy giáo Khả, họ An Nhơn. "Tại làng An
Lộc Đông th́ cha đă có lập đặng một
họ nhỏ, cũng bởi nhờ thầy giáo Khả.
Thầy nầy nghỉ làm việc về trong làng, cùng
dạy mấy đứa con những nhà giàu có. Khi
người trở lại học đạo rồi th́ nên
tông đồ mà dạy đạo trong xóm ḿnh, cũng
đă làm đặng cho 40 người vô đạo cùng
chịu phép rửa tội". (năm 1917, tr.630).
- Cũng có những người trở
lại đạo v́ thấy phép lạ Chúa cứu chữa,
hoặc thấy đạo tốt th́ tự ư đến
xin học đạo. Đây là trường hợp trở
lại v́ thấy phép lạ: "Trong lúc ấy (hồi
1878) có một đứa gái ngoại đau một bịnh
lạ, không thuốc nào trị được, ai nấy
đều nói là nó bị quỷ phá, mà nhờ bà Lành (Một
d́ phước Cái Mơn) đă đọc kinh cầu
nguyện cho nó, nên nó đă đặng mạnh lại. Xă
Thiện là cha đứa gái nầy và nội gia thất
nhờ đó mà tin kính Chúa cùng trở lại đạo
hết" (năm 1917, tr.566).
Và sau đây là trường hợp những
người tự ư đi t́m đạo. Ở họ Cái
Sơn, lối năm 1869 "dầu hết có hai
người ngoại là Nguyễn Văn Sửu và Kiều
Văn Vơ ở tại đây đă xin vô đạo cùng qua
Cái Bông mà nghe dạy, cha Tuyết khi ấy đang coi họ
nầy. Hai người chịu phép rửa tội rồi
th́ có nhiều nhà ngoại khác cũng xin học đạo,
nên thành ra một họ, và Nguyễn Văn Sửu
đứng đầu làm ông câu. Ông nầy có đức tin
vững vàng, hết ḷng cùng các cha các bà, chầu nhưng
học đạo th́ người dạy, nhiều khi
cũng nuôi những kẻ ấy đặng ở mà
học nữa. Ông nầy đă qua đời lối
năm 1888, c̣n lại một cháu trai tên là Danh c̣n ở
tại Cai Sơn. C̣n ông Kiều Văn Vơ có năm
người con, có gia tư và đạo hạnh tử
tế" (năm 1920, tr.773).
- Trên đây là những người trở
lại đạo v́ những lư do đáng. Nhưng cũng
có một số người trở lại hồi "Tân
trào" v́ những lư do không chính đáng chút nào, v́ muốn
an thân, v́ mong lợi lộc. Sau đây xin kể vài
trường hợp điển h́nh.
Trước hết là họ Hạnh Thông
Tây "Trong năm 1861 có ông Đốc phủ Ca (khi ấy
làm hương thân) cùng bà con người và ít hương
chức khác trong làng muốn theo đạo, nên đem nhau
đến cùng cha Phước (P. Puginier) mà xin giữ
đạo. Vậy cha Phước đă rửa tội cho
ông Đốc Phủ Ca và bà con người trước
hết tại Hạnh Thông Tây. Khi cha Phước tới
th́ kẻ ngoại rùng rùng chạy tới mà xin thọ giáo,
ước đặng 400 người. Song khi thấy
mỗi bữa phải đi nghe dạy, th́ phần
nhiều mấy kẻ xin theo đạo biếng nhác mà
thối lui, c̣n lại không bao nhiêu. Vậy cha Phước
đă dạy và rửa tội đặng vài trăm
người. Sau đó cha Phước đổi đi
nơi khác... Qua năm Ất Sửu (1865) có cha Dưỡng
tới ở họ đặng vài tháng rồi dọn
về họ An Nhơn... Vậy trong họ, phần v́
đạo mới, phần th́ xa cha thầy, nên có nhiều
kẻ xao lăng bỏ đạo, cùng nhiều người
trễ nải" (1917, tr.677-678).
Trường hợp họ Bà Điểm
càng đáng buồn hơn. Người ngoại sợ tây
đốt phá, nên xin cha Lư (P. Galy) che chở, và họ xin
đi đạo. Nhưng sau đó, nhiều người
đă bỏ đạo. "Người ta đồn binh
Langsa sẽ hủy cho tuyệt 18 thôn vườn trầu.
Nên ông huyện sở (khi ấy là hương chức làng)
nghe vậy th́ sợ. Vậy ông và ít người khác
chạy đến cùng cha Lư xin cha cứu giúp cùng hứa
ḿnh sẽ giữ đạo. Cha Lư đă tính cùng quan Langsa,
nên mấy người ấy đặng b́nh an khỏi lo
sợ ǵ và đă vô đạo... Cha chẳng những giúp
phần linh hồn mà cũng lo giúp phần xác nữa,
kẻ nghèo th́ cho tiền bạc lúa gạo ăn mà đi
nghe dạy. Lại mỗi ngày chúa nhựt, mấy kẻ
ở xa đến xem lễ, cha cho ăn cơm rồi
mới về... Trong đời cha Lư th́ số bổn
đạo một ngày một thêm, song đến sau không có
cha ở thường, th́ số bổn đạo không
thêm, mà lại một ngày một bớt, lại cũng có
nhiều kẻ bỏ đạo nữa". (năm 1917,
tr.693-694).
Sau hết, một số khá đông đă
xin trở lại đạo, v́ tưởng lầm
rằng theo đạo làm "đẹp ư các quan
Langsa". Như thế rơ ràng theo đạo là theo tây.
Để tránh sự ngộ nhận đó, nguyên soái Bonard
đă ra một thông tư nói rơ đạo và Tây là 2 cái riêng
biệt, không ăn nhằm ǵ với nhau. Nhân đó hầu
hết loại "giáo dân" này đă bỏ đạo
ngay. Bản niên giám viết: "Số người
ngoại giáo trở lại cũng nhiều, v́ thấy tân
trào Langsa có đạo, nên muốn theo một đàng.
Như tại làng Phú Nhuận, bên kia cầu Kiệu,
người ngoại đua nhau tự ư mà xin học
đạo. Khi ấy cha Triêm giữ việc tại nhà Đức
cha, cùng lo coi họ Cầu Bông và họ Thị Nghè; cha
đă lo dạy dỗ những chầu nhưng tại Phú
Nhuận, cùng đặng vui mừng mà rửa tội cho
nhiều người và hiệp những đạo mới
nầy với họ Tân Định (An Ḥa). Nhưng sự
vui mừng ấy chẳng đặng bao lâu, v́ cớ này:
là có châu tri (thông tri) quan Nguyên soái Bonard gởi cho nhân dân
hết thảy mà khuyên bảo nhiều điều, và có nói
sự này về đạo, là không cần ǵ dân sự
phải theo đạo chánh mới gọi là kẻ trung tín
với tân trào đâu. Bởi vậy cho nên người
ngoại không xin vô đạo nữa, và phần nhiều
đạo mới tại Phú Nhuận đă bỏ
đạo" (năm 1918, tr.215-216).
B. Những người có
đạo đầu tiên và xă hội thời ấy
Đây là giáo hội sơ khai ở
đất Nam Kỳ, rất khác với những ǵ
người ta thấy ở ngoài Bắc. Người có
đạo ở Nam Kỳ sống trong một xă hội bao
dung, rất khác với không khí thù hằn và khắc
nghiệt ở vùng Nam Định và Thái B́nh. Trong Nam này không
đâu có bóng dạng một tổng đốc Trịnh
Quang Khanh say mê với việc bắt và giết
người có đạo.
Để nói lên tánh khoan dung của dân
miền Nam đối với người có đạo
chính giữa lúc Minh Mạng cấm đạo, chúng tôi xin
trích dẫn mấy trang của niên giám liên quan đến
các quan và dân miền Nam.
1.
Các quan không ghét đạo, không ưng việc bắt
đạo.
Trước hết là thái độ của
tả quân Lê Văn
Duyệt: "Vua Minh mạng kế ngôi vua Gia
Long phải kiêng sợ quan tả quân này, chẳng dám
bắt buộc người sự ǵ. Trong đời quan
này trấn tại Saigon th́ các bổn đạo đâu
đó đều đặng b́nh an, khỏi sợ bắt
bớ v́ đạo. Một việc này cũng đủ
làm chứng quan tả quân Lê Văn Duyệt có ḷng thương con
nhà giáo hữu". Là ngày kia trong khi người đang
chơi xem cuộc đá gà, vừa đặng sắc
chỉ vua Minh Mạng dạy bắt bớ bổn
đạo và người tây (trong năm 1828), th́ quan ấy
liền nói lớn rằng: "Có lẽ nào chúng ta bắt
bớ kẻ đồng đạo với Đức
Thầy Vêrô và mấy người tây làm chi, miệng ta c̣n
đang nhai cơm của Đức Thầy và mấy
người tây đây... không đâu, bao lâu tôi c̣n sống th́
không ai nên làm sự ấy. Chừng tôi chết rồi
đă, vua muốn làm ǵ th́ mặc ư" (năm 1918, tr.136).
Khi vua Minh Mạng ra sắc chỉ bắt
đạo gắt gao, th́ nhiều quan ở miền Nam
vẫn giữ thái độ khoan dung, không bắt
đạo: Như quan phủ Bằng, tỉnh Vĩnh Long
"quan phủ Bằng tánh tự nhiên th́ hiền hậu,
và không có hay kiếm đều chi mà húng hiếp kẻ có
đạo, mà lại có ḷng yêu cả Dươn và cả
sách nữa, song bổn đạo tự ư đồng ḷng
dưng cho người mỗi năm 300 quan tiền như
vậy, th́ quan ngoại này không ḷng nào từ rảy. Mà
thật nhờ ơn quan phủ lắm, cho nên bổn
đạo họ Mặc Bắc mới đặng ở
an, v́ hễ có ai tới nha môn mà cáo rằng có đạo
trưởng (thầy cả) ở tại Mặc Bắc,
th́ quan phủ liền sai một người tâm phúc
đến đó mà nói cho ông cả hay trước vài ngày.
Nên cha bèn lo ẩn ḿnh, áo lễ đồ lễ th́ bổn
đạo lo giấu trên rừng bụi. Chừng quan
phủ tới tra xét theo phép, th́ không có ǵ hết. Những
đội và lính biết rơ quan thầy ḿnh chẳng
muốn làm ǵ khó ḷng cho bổn đạo, nên cũng theo
một ḷng tử tế. Bổn đạo cho thầy
đội vài quan tiền, đăi mấy tên lính mỗi
đứa vài chén rượu, rồi th́ chúng nó chống ghe
lui, chèo đưa quan phủ trở về" (năm 1918,
tr.391).
Tuy nhiên, sau này thời vua Tự Đức,
v́ có sự uất ức thua Tây, lại nghi ngờ
người có đạo "theo tây", nên mới có
vụ quan tỉnh Biên Ḥa bắt bổn đạo mà thích
tự bốn chữ "Tả đạo, Biên Ḥa" và
bắt giam ngót 700 giáo dân vào 4 nhà tù ở Bà Rịa. Khi nghe
biết người Pháp tính giải cứu cho các
người vô tội này, th́ quan quân đă đốt 4 nhà
tù đó, làm cho 695 người bị chết thiêu, ngày 7
tháng Giêng 1862.
Viết về vụ Bà Rịa này, niên giám
ghi rằng: "Thuở ấy có một đều này
đáng ghi nhớ, là bổn đạo đều than trách
về sự độc ác quan quân dữ tợn bất
nhơn, nhưng mà khen ngợi những người
ngoại đạo xứ Đất Đỏ khéo lo,
những kẻ ấy không theo phe kẻ bắt đạo,
có ḷng thương xót giúp đỡ những người
bổn đạo bị bắt bớ, giấu đút, che
đậy, có lúc đem về nhà ḿnh mà giấu
người có đạo cho khỏi tay quan quân bắt
bớ, nuôi dưỡng cho ăn, giúp tiền bạc cần
dùng, nên dễ hiểu sao mà cha Trí ở lại trong họ
đặng trong lúc cấm kín bắt bớ vậy mà quan
quân chẳng hay biết ǵ". (năm 1917 tr.776).
2. Người
ngoại thường quư mến và bao che cho người có
đạo.
Trên đây chúng ta vừa thấy bụng
tốt của người ngoại, hết ḷng bao che cho
người có đạo. Điều này có thể là
phổ quát, v́ được nhắc tới nhiều
lần trong các bài niên giám, liên quan đến nhiều
nơi khác nhau ở miền Nam này. Chỉ xin kể lại
vài trường hợp điển h́nh.
Nói về họ An Nhơn (tỉnh Gia
Định) bản niên giám viết: "Vậy bổn
đạo tại họ An Nhơn khi ấy đặng
b́nh an luôn, khỏi lo sợ phải hiếp đáp cùng là
bắt bớ ǵ hết, làng xă ngoại sở tại th́
bổn đạo có lo lót tiền bạc cho nên chẳng
hề làm sự ǵ khó ḷng cho bổn đạo. Trong mấy
cơn cấm kín dữ dằn đời Minh Mạng và
Tự Đức, th́ hương chức làng đă lo
lắng để một gia thất ngoại ở trong
mỗi một nhà bổn đạo, cho ngoại ở
trước, c̣n chủ nhà có đạo ở phía sau.
Hễ khi quan tỉnh tới làng mà vô xét mỗi nhà cùng
hỏi giữ đạo nào, th́ mấy người
ngoại ở trước trả lời, nói ḿnh là
ngoại cùng chỉ giường thờ ông bà chúng nó
đặt giữa nhà đó cho quan coi, quan không thấy
dấu ǵ về đạo nên không xét nữa" (năm
1917, tr.597).
Nhiều khi người ngoại liều
mạng để giúp người có đạo giấu
ấn các linh mục thừa sai trong nhà. Nói liều
mạng, v́ tội oa trữ "đạo
trưởng" là tội phải án tử h́nh.
Dưới đây là trường hợp người
ngoại cho Đức cha Lefèbvre ẩn tại nhà.
"Vậy quan tuyên lịnh t́m cho được
Đức cha, quan tới Cái Nhum bắt ông Vêrô Dinh
là biện và câu đồng nhi mà khảo tra hơn 30 phen,
dạy phải chỉ đức cha ở đâu, song ông
nầy chẳng hề chịu khai ǵ hết, đánh
khảo đau lắm th́ người kêu Chúa mà thôi. Khi
ấy Đức Cha ẩn ḿnh trong nhà một người
ngoại ở tại Cái Gà" (năm 1917, tr.343).
"Người ngoại c̣n cất giùm
tượng Chúa của họ Cái Nhum. "Họ Cái Nhum
đă đặng một tượng ảnh Đức
Chúa Giêsu, tượng ấy lớn bằng người,
bây giờ cũng c̣n tại họ... Trong lúc cấm kín, th́
bổn đạo chở tượng nầy giấu
dưới ghe chèo ra sông, sợ kẻo quân nghịch soán
đặng tượng Chúa mà nhạo cười làm
điều vô phép phạm đến. Trong cơn bắt
đạo sau hết, th́ bổn đạo lại đóng
một cái ḥm lớn, bỏ tượng ảnh này nằm
vào mà chôn trong một nhà người kia ngoại, mà có bà con
có đạo ở Huế. Làm như vậy mới
khỏi lo sợ, v́ quan quân không có t́m xét trong nhà kẻ
ngoại làm chi" (năm 1917, tr.330-331).
Một điều đáng ghi nhớ là
mấy trường hợp đi tố quan để
bắt các giám mục, linh mục, đều là
người có đạo. Không thấy niên giám ghi
trường hợp nào do người ngoại.
Trên đây đă thấy Đức cha
Lefèbvre ẩn trốn nơi một gia đ́nh ngoại. Sau
đó Đức Cha bị bắt, v́ "trong lúc ấy có
một đứa nhỏ 12 tuổi, là con thầy cai
tổng có đạo, phải quan bắt mà ngăm đe,
nên nó sợ quá mà chỉ nơi Đức cha đang
trốn, bởi vậy Đức cha phải bắt trong
ngày 21 Octobre 1844. (Năm 1917, tr.343).
Ông cai tổng này sau đó v́ không chịu
nổi các h́nh khổ, đă bỏ đạo (năm 1917,
tr.344).
Trường hợp Á thánh Philippê Minh bị
bắt ở Mặc Bắc, cũng do một người
có đạo cờ bạc bê bối. "Khi ấy cha
Lưu đang lo coi dọn nền đặng rời nhà
thờ lại chỗ mới... Bếp Nhân tới xớ
rớ như là muốn phụ giúp, rồi nó lại
gần cha mà than túng, càng xin cha giúp nó 300 quan tiền. Cha
Lưu biết danh tánh nó rơ lắm, nên cha đoán nó giả
chước xin tiền đặng mà nộp cha. Vậy cha
trả lời nó như vậy: "Mầy là đạo
ḍng đạo dơi, mầy muốn bán tao như Giudà sao?
Mầy muốn cáo tao th́ cáo đi, tao ham mũ triều thiên
tử đạo lắm". Vậy nó bèn tuốt qua
Vĩnh Long, đâm đơn cáo cùng quan rằng có
đạo trưởng Lựu ở tại Mặc
Bắc... Cách lâu ngày, trong quăng đó cha Lựu đổi
đi Bà Giồng và cha Minh từ Cái Mơn qua thế
tại Mặc Bắc" (năm 1917, tr.427-428). Và cha Minh
bị bắt và tử đạo tại Vĩnh Long. C̣n
Bếp Nhẫn sau "trở lại ăn năn nên
gương lành cho tới chết là năm 1875" (Năm
1917, tr.357).
Duy có một trường hợp
người ngoại tố cáo người có đạo,
chỉ quá bực tức với một thầy giảng
quá hăng say truyền đạo. "Có thầy giảng tên
là Phước, sốt sắng việc giảng dạy quá
mà làm cho kẻ ngoại ghét, nên phải chúng nó cáo cho quan
bắt, người chịu h́nh khổ, đ̣n bọng mà
hằng vững ḷng... Thầy Phước th́ vua đă lên
án tử mà chưa thi hành. Thầy này với một
thầy khác đă giảng đạo tại khám Huế,
mấy tên phạm cầm trong khám trở lại gần
hết. Khi vua Tự Đức lên ngôi 1847-1858 th́ ra ân xá tha
bắt đạo ít lâu, nên cho hai thầy ấy về quê,
song mấy kẻ đă trở lại đạo ở
trong khám khóc lóc nài nỉ, xin ở lại với chúng nó, nên
hai thầy ấy chẳng muốn ra về thong thả,
một đành ḷng ở lại với những đạo
mới ấy". (năm 1917, tr.343-344).
Điều rơ ràng và chắc chắn là giáo
dân khi Pháp sang xâm lược bị bắt bớ v́
đạo, như một phản ứng tự nhiên t́m cách
đến ẩn náu gần nơi có quân đội Pháp
đóng để được an thân. Điều này
đă nên cớ cho "các quan An Nam" nghi ngờ
người có đạo. Hơn nữa đôi khi
được yêu cầu, quân đội Pháp t́m cách
giải cứu những người có đạo bị
giam tù để chờ ngày tử đạo, đó là
trường hợp 4 nhà tù ở Bà Rịa giam ngót 700 giáo
dân. Trước khi bỏ chạy, quan quân nhà vua đă thiêu
rụi 4 nhà tù, tàn sát ngót 500 giáo dân.
Ngoài ra bản niên giám cũng nói đến
mấy "thầy thông ngôn" có đạo đă có công
giúp lập nên vài họ đạo, như họ Bà Rịa
(thầy Petrus Tạo) (Năm 1917, tr.805), và Tân An (một
thầy cựu học sinh trường Pinăng) (Năm
1918, tr.502). Việc mấy người có đạo làm
thông ngôn cho Tây, hợp tác với thực dân lúc đầu
chỉ là v́ những lư do kinh tế, chắc số người
có đạo cũng không nhiều hơn số
người ngoại. Ngay mấy thầy thông ngôn có
đạo đó, kể luôn mấy cựu học sinh
chủng viện, thường lo túi tiền hơn là
việc đạo. Cho nên niên giám viết về thầy
thông ngôn Tân An như sau: "Những người có
đạo ở Tân An trước hết là 4 người
cựu học tṛ Latinh tại trường Pi-Năng,
tới đây năm 1867, đặng làm thông ngôn cho nhà
nước Langsa cùng đă nên giàu có, c̣n việc mở mang
đạo thánh th́ không lo đặng bao nhiêu. Nhưng
cũng bởi có mấy thầy, cho nên có vài nhà bổn
đạo gốc ở Ba Giồng qua ở Tân An"
(năm 1918, tr.502).
3. Về thái độ của
người Pháp đối với giáo dân hồi đó,
tất nhiên họ có "thiện kiến tốt"
(préjugé favorable) đối với giáo dân đang chạy
lại phía họ như những kẻ bị săn
bắn từ phía vua quan An Nam. Trong các nguyên soái đầu tiên
(Rigault de Genouilly, Charner, Bonnard, De la Grandière) theo
người ghi sự tích chỉ có ông sau cùng tỏ
thiện cảm đặc biệt với người có
đạo, "v́ quan này biết rơ, nhân dân có đạo th́
trung tín lắm, Nhà nước khỏi lo ngại ǵ, cho nên
đáng cho nhà nước yêu chuộng hơn" (năm
1918, tr.152). Tuy nhiên ta không nên quên rằng đa số
người Pháp hồi đó không giữ đạo,
mặc dầu có tiếng là người có đạo. Chánh
phủ Pháp hồi đó là chánh phủ Jules Ferry đang
đả phá Giáo hội. Chính Jules Ferry ghét giáo hội
đến nỗi đă thốt ra tại Quốc hội
Pháp những câu mà ai học Sử cũng biết. Ông nói:
"Le cléricalisme, voilà l'ennemi - Bọn giáo đồ, đó
là kẻ thù của ta". Và câu khác tệ hơn: "Il
fant écraser l'infâme - Phải dày nát bọn khốn
nạn". Bọn khốn nạn ông nói đây là Giáo
hội. Riêng bên Việt Nam, có lúc họ chơi tṛ úp mở,
lợi dụng. Nhưng khi cái tṛ đó quá lố th́ một
người như Bonnard cũng phải ra thông tri nói rơ
"không cần ǵ dân sự phải theo đạo chánh
mới gọi là trung tín với tân trào đâu" (năm
1918, tr.216)
HẠNH
CHA MINH VÀ LÁI GẪM TỬ ĐẠO - HẠNH Á THÁNH MARCHAND
(DU)
của
Linh mục Máthêu Đức
Văn liệu chúng ta hiện có là ấn
bản do Imprimerie de la
Mission à Tân Định Saigon xuất bản
năm 1902. Trong Tiểu dẩn của tác giả
(đề ngày 24 Juin 1900) và Tựa (cho bản in lần
thứ hai bản hiện có) cũng của tác giả
(đề ngày 24 Novembre 1901) có ghi rơ:
- Trong lần in 1, chỉ có Hạnh cha Minh
và Lái Gẫm lần in 2 mới thêm Hạnh Marchand (Du) kể từ giờ chúng tôi
gọi tắt là cha Du.
- Ấn bản này mục đích chủ
yếu là để phổ biến trong nội bộ
cộng đồng TCG.
Đối với những người biên
khảo về văn học, ngữ học, cuốn sách
này hữu ích về nhiều điểm. Riêng với
năm viết là 1900, nó cũng là bằng cớ cụ
thể về văn quốc ngữ là thế nào cuối
thế kỷ 19.
Về từ, điểm ghi nhận
đầu tiên là không khác hiện nay bao nhiêu. Thỉnh thoảng
mới gặp từ cổ như vạn viết là
vẹo, quyền viết là quờn. Chính tả đúng,
đúng đến cả hỏi ngă, mặc dù qua cách dùng
từ (chân phúc viết là chơn phước, bản
quốc thành bổn quốc...) chúng ta biết tác giả là
dân miền Nam. Về cách đặt câu: câu gọn, rơ ràng,
có cấu trúc gần như hiện nay. Sự kiện này
làm chúng tôi quan tâm v́ cả hai mươi năm sau, nhiều
tác giả Việt Nam viết câu c̣n rườm rà, biền
ngẫu. Có thể cắt nghĩa sự kiện này
bằng sự chữ quốc ngữ đă được
sử dụng trong nội bộ Công giáo nhiều và
trước bên ngoài rất lâu.
Một bản văn có tính cách phổ
biến nội bộ cao như cuốn này, chúng tôi không
ngạc nhiên khi cuốn bài Tựa, tác giả đề
thế này: Làm tại nhà trường ông thánh Giude.
Saigon, ngày 24 Novembre 1901, Chính lễ các v́ tân Á
Thánh tử đạo. Nhưng chúng ta ít ngờ tới
sự kiện một linh mục lại viết và thích làm
thơ Đường Luật. Trước khi vào tiểu
sử mỗi thánh, lại có một trang đăng 2 bài thơ
vịnh: một của linh mục Nguyễn Biểu
Đoan, một của Giáo hữu bái tặng. Chúng tôi ghi
lại dưới đây bài đầu tiên, một
phần để thưởng lăm thơ văn cha cố,
một phần để làm bằng cớ là nỗ
lực Việt hóa đă có trong hàng giáo sĩ TCG Việt Nam
từ khá lâu
PHỤNG KÍNH Á THÁNH MINH THI
Lưỡi gươm chém đạo
gẫm tinh thay!
Trí
sử anh hùng rạng tiết rày:
Lao
lư bảy năm truyền đạo thánh
Gian
truân mấy đoạn chỉ dàng ngay
Chăn
chiên dẫu trễ cầu sô mục,
Thờ
Chúa nào quên mất tấm thây.
Thánh
Hội tôn rao rằng Á Thánh,
Đại
Nam mừng rỡ xiết chi vay!
Linh mục Thôma NGUYỄN BIỂU ĐOAN
bái tặng.
Ngoài phương diện văn, ngữ
học, cuốn sách của M. Đức c̣n có thể coi
như một mẫu mực về loại văn tiểu
sử danh nhân. Khoảng từ 20 đến 30 năm sau,
nhiều nhà văn đă chuyên về loại này, nhưng dù
là Phạm Minh Kiên ở trong Nam, Nguyễn Triệu Luật
ở ngoài Bắc, vẫn không tác giả nào đạt
đến sự chính xác của Mátthêu Đức. Dĩ
nhiên chúng ta có thể nói ngay lư do chính tại Mátthêu
Đức là một linh mục, tất nhiên tiếp thu
trực tiếp và trọn vẹn nền giáo dục Tây
phương, đương nhiên có tinh thần khảo
cứu khoa học. Điều đó là đúng nhưng
mới là cái đúng chung chung.
C̣n có những lư do khác nữa. Thí dụ hàng
ngũ linh mục, giám mục thế kỷ 17, 18, 19
đều đa số là người Tây phương (Pháp,
Ư, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha...) Họ có truyền thống
bảo vệ thư tịch, văn khố các loại.
Bởi thế điều nghịch lư nhưng vẫn là có
thực cho tới nay là hầu như mọi công tŕnh t́m
hiểu về quá khứ Việt Nam cận đại,
chúng ta vẫn phải dựa rất nhiều vào văn
khố, thư tịch của Tây phương. Ngay một
sự việc cỏn con là thủ đô Hà Nội
trước khi bị Pháp đánh chiếm th́
đường phố ra sao, người viết bài này
cũng phải đọc hồi kư Au Tonkin 1873-1881-1886 Notes
et Souvenirs của R. Bonnard mới biết kinh đô Thăng
Long rất bết bát về phương diện kiều
lộ (chính giữa lộ bát gạch như
đường làng châu thổ sông Hồng Hà, hai bên không có
cống rănh dẫn nước mùa mưa hai bên lề là bùn
lầy...). Giáo hội TCG La Mă c̣n kỹ về văn khố
thư tịch hơn nữa. Bất kể những ǵ có
liên quan tới tôn giáo của họ, đều
được bảo quản tồn kho đầy đủ
đến chi tiết, không những thư từ các nhà
truyền giáo gởi cho thượng cấp
được giữ lại đă đành, mà thậm chí
thư từ gia đ́nh cũng được sưu
tầm, nếu tu sĩ truyền giáo đă lập
được công trạng nào đó. Chúng ta ai cũng biết
ở thời phong kiến, Đông cũng như Tây
đều tra hỏi kẻ bị bắt bằng tra
tấn. Các h́nh cụ tra tấn của Tây Phương,
đương nhiên có lưu lại trong một viện
bảo tàng đă đành, mà các h́nh cụ tra tấn của
Ṭa Tam pháp vương triều Nguyễn Gia Long, cũng
được lưu giữ trong một pḥng riêng ở
Vatican - Matthêu Đức ghi rơ như vậy... Bởi
thế không có ǵ ngạc nhiên khi viết tiểu sử Á
Thánh Minh, Mátthêu Đức không những ghi rơ tên họ
nghề nghiệp của bố mẹ, mà c̣n liệt kê
đầy đủ tên cha cả 14 anh em, và ghi rơ ai
chết sớm, ai chết non...
Bởi thế chúng ta có thể khai thác
cuốn sách của Matthêu Đức như một chứng
từ lịch sử hiểu theo nghĩa rộng. Thí
dụ thủ tục đi bắt người, cách tra
hỏi của tư pháp thời đó, cách chém đầu,
cách xử lăng tŕ... chúng ta ghi lại các sự kiện
lịch sử như các vua triều Nguyễn cấm
đạo, nhưng cụ thể là thế nào. Cho tới
giờ, các văn khố thư tịch được công
bố đa số đều lấy từ phía Nhà
nước, chính quyền. Chúng ta đă có thể biết
nội dung đạo cụ cấm đạo năm 1828
của Minh mạng nhưng khi quan lại địa
phương áp dụng vào thực tế th́ sao. Cuốn sách
của Matthêu Đức sẽ cung cấp cho chúng ta
những dữ kiện đó từ phía nạn nhân, và
mở rộng ra, từ phía nhân dân bị trị.
Chúng tôi bỏ phần lược tóm
hạnh cha Minh và Lái bẩm và chỉ nói về
trường hợp Cố Du.
Trước khi tŕnh bày trường hợp
cha Du (Marchand) chúng tôi thấy cần t́m hiểu hai vấn
đề, hai điểm cơ bản về giáo lư TCG.
Đó là tinh thần Tử v́ đạo và Ơn Thiên
triệu. Nếu nhắc tới Nho giáo, chúng ta bắt
buộc phải xét tới tam cương ngũ
thường... th́ đối với TCG, tinh thần Tử
v́ đạo và Ơn Thiên triệu cũng có vị trí quan
trọng tương đương.
Tử
v́ đạo
Đạo Thiên Chúa ra đời trong vùng
đế quốc La
Mă khống chế. Trong những tuyên ngôn
đầu tiên đều đă đưa ra nguyên tắc
b́nh đẳng giữa người và người. Bấy
nhiêu thôi cũng đủ là một ư thức hệ cách
mạng - xét trong hoàn cảnh lịch sử thời đó -
chưa kể những nguyên tắc khác về Bác ái cùng
sự hứa hẹn cuộc sống vĩnh cửu trên
Thiên đường cho người đạo hạnh...
Với từng ấy thôi cũng đủ quyến rũ
(và an ủi) những người thuộc giai tầng cùng
khổ trong xă hội thời đó, chủ yếu là giai
cấp nô lệ trong đế quốc La Mă. Đạo lan
truyền nhanh thành phong trào quần chúng. Đứng ở
vị trí giai cấp thống trị đương
thời, một phong trào quần chúng trang bị ư thức
hệ khuynh đảo cách mạng như vậy, dứt
khoát đe dọa sự tồn tại của đế
quốc. Bởi thế, công cuộc đàn áp
được nhiều hoàng đế La Mă tung ra, nổi
tiếng nhất (văn học, điện ảnh
hiện nay của Tây phương đă khai thác nhiều
như Quo Vadis) là công cuộc
đàn áp của hoàng đế Néron v́ những biện pháp
tra tấn, và xử tử ngoạn mục như thả
sư tử, hổ ăn thịt tín đồ, hay trói tín
đồ vào thập tự tẩm đầu đốt
làm đuốc...
Đạo Thiên Chúa phản ứng bằng
cách tạo ra những anh hùng, những vị thánh tử
đạo trong hàng ngũ linh mục, tu sĩ và giáo dân, là
những người sẵn sàng chấp nhận cái
chết thảm khốc như thế. Đến khi Hoàng
đế La Mă
vào thế kỷ thứ 3 băi bỏ lệnh cấm
đạo trên toàn đế quốc và vùng ảnh
hưởng của ḿnh, người công giáo không c̣n bị
bắt bớ, chịu tử v́ đạo nữa. Họ
có thể tự do sống đạo, truyền
đạo. Nhưng về phương diện giáo dục,
Giáo hội vẫn không quên nhắc nhở những khó
khăn, thử thách khi xưa có thể xảy ra bất
cứ lúc nào, và do đó vẫn phải đón nhận,
chịu đựng những thử thách đó nếu
xảy ra thực, không phải với tâm trạng coi
việc giữ đạo chỉ nhằm mục đích
để được chết v́ đạo, mà chỉ
trong tinh thần sẵn sàng chấp nhận những
thử thách coi chết ngoài ư muốn của ḿnh khi không c̣n
trốn tránh, che giấu ǵ được nữa đành phải
coi những thử thách, cái chết cũng là một
hồng ân Thiên Chúa ban..., có hiểu tinh thần tử v́
đạo như thế chúng ta mới không ngạc nhiên khi
thấy Lái Gẫm chỉ cần bước qua chiếc
thập tự gỗ (hay tre) tuyên bố bỏ "tả
đạo" là thoát cực h́nh và xử trảm, Lái
Gẫm cũng không làm, vui vẻ ngẩng cao đầu hô
ḿnh là "Datô" trên đường ra pháp trường.
C̣n Cha Minh, giáo dân, quan lại Việt Nam dùng đủ
mọi cách để cứu, để tha cha Minh, cha
vẫn cứ giữ nguyên xác nhận ḿnh là giáo
trưởng để bị chém bay đầu với
tư cách đó, một cách b́nh tĩnh, thoải mái.
Ơn Thiên triệu
T́m hiểu cặn kẽ giáo lư và triết
lư TCG là một công tŕnh chúng tôi không định làm ở
đây. Bởi thế xin chỉ tŕnh bày những
điểm đại cương, những phác
lược nào lư giải được cuộc
đời của các nhà truyền giáo TCG Tây phương
(kể cả các mục sư Tin lành), trong đó quan
trọng nhất là ơn Thiên triệu.
Ơn Thiên triệu, hay "có ơn kêu
gọi của Chúa" là ơn sủng, lời kêu gọi
của Chúa giành cho một số cá nhân được Chúa
chọn lựa. Những ai cảm thấy sự chiếu
cố chọn lựa đặc biệt này th́ phải
hiểu rằng mạng sống của ḿnh, cuộc
đời ḿnh kể như đă hiến dâng hoàn toàn cho
Chúa. Trên thực tế cụ thể, cá nhân ḿnh kể
như thuộc Giáo hội.
Có nhiều con đường để
đáp ứng ơn Thiên triệu: nam trở thành linh
mục, sư huynh, nữ trở thành nữ tu. Nhưng
đáp ứng ơn Thiên triệu trọn vẹn hơn
cả là trở thành nhà truyền giáo.
Động cơ thúc đẩy
người cho rằng ḿnh có ơn Thiên triệu làm
thừa sai là sự nhận biết Thiên Chúa như một
Tin Mừng không thể không truyền đạt cho
người khác cùng biết Tin Mừng đó, v́
thương yêu người khác. Nhận thức càng sâu
sắc, động cơ thúc đẩy càng mănh liệt, dù
phải đi bất cứ đâu, gặp bất cứ
gian nan thử thách nào... cũng không sờn ḷng.
Với ơn Thiên triệu trang bị thêm
tinh thần sẵn sàng tử v́ đạo, đă có
những người thừa sai đi truyền giáo ngay
từ hồi sơ khởi, đ̣i các Thánh Tông đồ,
trước từ lâu khi chủ nghĩa tư bản
đế quốc phát sinh ở Âu châu... Tuy nhiên v́ nhà
Truyền giáo cũng là con người của một
thời đại, một chế độ, một ư
thức hệ, một văn hóa... và phải rao giảng
đạo. Tôn giáo thiêng liêng bằng một ngôn ngữ
của một văn hóa, bằng những phương
tiện đời... nên trong lịch sử, việc
truyền giáo không thể tránh được những
trường hợp bị chính trị lợi dụng
hoặc những trường hợp chính nhà truyền giáo
hiểu lệch lạc, sai trái việc truyền giáo.
Chẳng hạn quan niệm truyền giáo dễ cho rằng
những dân tộc ngoài Âu châu chỉ có thể theo
đạo và giữ đạo lâu dài được
nếu họ chấp nhận văn hóa tư tưởng
Âu châu như là những h́nh thức biểu hiện
sống đạo thích hợp hơn cả, và tốt
hơn nữa nếu họ được cả sự
bảo vệ của những thể chế xă hội chính
trị tây phương... Một quan niệm như vậy
đương nhiên đưa đến những hành
động tiếp tay cho thực dân. Nhưng từ
những hành động tiếp tay đó mà đánh giá
thừa sai cũng chỉ là thực dân th́ lại chưa
hoàn toàn xác đáng.
Đây là một sự kiện cần
nhận định, phân biệt cho rơ. Nếu có một
số giáo sĩ thừa sai làm những việc có tính
chất gián điệp, t́nh báo như viết những báo
cáo về t́nh h́nh một nước, một địa
phương ḿnh truyền đạo về các mặt
địa lư, kinh tế, chính trị v.v... một gởi
cho nhà cầm quyền nước ḿnh, hoặc thông báo
những tin tức về quân sự, địch t́nh trong
lúc diễn ra chiến tranh xâm lược cho đoàn quân
viễn chinh th́ không hẳn với tư cách một nhân viên
thuộc các tổ chức t́nh báo thi hành nghiệp vụ, mà
là có tính cách tự nguyện kiểu t́nh báo nhân dân. Họ
cũng làm việc này một cách công khai khi gởi cho báo chí
hay quốc hội nghị viện để tạo dư
luận áp lực chính trị.
Họ làm như vậy v́ những
động cơ ǵ, có phải đơn thuần chỉ
v́ quyền lợi quốc gia của đất
nước họ không? Nếu chỉ có vậy th́ làm sao
giải thích được thái độ sẵn sàng
để cho bị bắt, chém đầu chịu tử
v́ đạo; có người nào làm chính trị lại có
một thái độ ngu xuẩn hay kỳ dị như
vậy không? Điều kỳ dị khác là ngay cả khi
chính quyền nước họ và kẻ đại
diện ngoại giao ở Việt Nam chưa hề
muốn xâm chiếm v́ chưa thấy lợi ǵ phải
phiêu lưu hàng vạn cây số họ vẫn cứ tự
nguyện sốt sắng gởi báo cáo về khuyến cáo,
thúc dục can thiệp như trường hợp Puginier
đă làm. Theo hồ sơ hành chánh của người Pháp
hồi đó, viên đại diện của Pháp ở
Bắc kỳ thường kèm theo các báo cáo của Puginier
những bức điện cảnh giác chính quyền Pháp
đừng tin theo những luận điệu thổi
phồng, quan trọng hóa t́nh h́nh v́ lợi ích tôn giáo của
ông Giám mục này. Vậy phải hiểu rằng
động cơ chính chi phối hành động chính
trị của họ là tôn giáo và mục đích cuối cùng
của họ là truyền giáo chứ không phải quyền
lợi của nước Pháp, đối với họ
chỉ là một phương tiện, nên họ dễ dàng
chấp nhận chịu tử v́ đạo khi không c̣n làm
ǵ được nữa. Nhưng khi c̣n hy vọng hoạt
động truyền giáo, đương nhiên họ
nghĩ đến việc tạo những điều
kiện chính trị thuận tiện. Điều kiện
chính trị thuận lợi hơn cả là có một chính
quyền cho tự do tôn giáo và tốt hơn nữa,
đảm bảo hơn nữa là chính quyền đó theo
đạo, nếu cho rằng một trong hai ba phe những
người đang dành chánh quyền sẽ đảm
bảo được việc truyền giáo hơn cả
th́ phải giúp họ dành được chính quyền.
Đó là trường hợp Bá Đa Lộc. Ông đă mang
hết sức ḿnh ra giúp Nguyễn Ánh chỉ mong sau này khi
lên ngôi vua Việt Nam, Nguyễn Ánh sẽ nhớ ơn mà
đưa Thiên chúa giáo lên hàng quốc giáo (Hoàng tử
Cảnh trở lại đạo) hoặc ít ra cho tự do
truyền đạo. Bá Đa Lộc là một cố
vấn chính trị thân tín của Nguyễn Ánh, nếu có
thông báo ǵ cho nước Pháp chẳng qua cũng chỉ
nhằm thuyết phục giúp đỡ, giao thương
với Việt Nam mà thôi ( (Quan niệm của
Bá-Đa-Lộc khá phổ biến, để
được chấp nhận trong Công giáo: giúp chính
trị để chính trị giúp đạo. Tuy nhiên
cũng có quan điểm đối chọi cho rằng dính
vào chính trị thực ra chẳng làm lợi cho đạo
mà có thể làm hại đạo. Tài liệu Sử
Truyền giáo cho biết nhiều giám mục thừa sai
đương thời với Bá Đa Lộc đă phê phán
nghiêm khắc thái độ chính trị của Bá Đa
Lộc.). Trái lại Puginier tiêu biểu cho một thái
độ cực đoan triệt để hơn
nhiều không tin có thể có một chính quyền bản
xứ thiện cảm với TCG và triệt để
hơn nữa, v́ không tin một nền văn hóa ngoài
văn hóa Âu châu thấm nhuần tinh thần Ki-tô giáo là
thuận lợi cho việc sống đạo, nên Puginier
cho rằng việc giữ đạo và truyền
đạo ở Việt Nam chỉ có thể duy tŕ và phát
huy được trong khuôn khổ văn hóa tây
phương, những thể chế chính trị xă hội
tây phương. Đó là một quan điểm thần
học về truyền giáo sai lầm. Nhưng chính các quan
điểm thần học sai lầm này mới giải
thích được thái độ "sốt sắng"
một cách kỳ quặc của Puginier kể trên.
Tuy nhiên khi thực dân Pháp đă thực
sự có ư đồ xâm lược đă dính líu vào Việt
Nam rồi, và một mặt khác, vua quan Việt Nam có
tiếp tục cấm đạo, càng khủng bố
bắt đạo khi thấy Tây càng tỏ rơ ư đồ
xâm lược, người theo đạo bị
đẩy vào bước đường cùng, phải
chạy theo Pháp để được bảo vệ, v́
coi đạo là trên hết, và do đó không phải chỉ
giáo sĩ thừa sai, mà cả tu sĩ giáo dân Việt Nam
cũng hoạt động gián điệp (thông báo tin
tức quân sự cho Pháp) v́ đă đứng về phía hàng
ngũ địch... V́ đă rơ nếu không có cấm
đạo th́ Tây không mượn cớ làm chiêu bài, nhưng
nói vậy thôi, dù không cấm đạo, dù không có vấn
đề Thiên chúa giáo th́ việc xâm lược và mất
nước vẫn xảy ra với những chiêu bài khác,
nếu chính quyền bản xứ thi hành chính sách bế
quan tỏa cảng. Khi Pháp đă chiếm đóng rồi,
bước vào thời kỳ b́nh định, vẫn có
những giáo sĩ thừa sai làm gián điệp t́nh báo khi
thông báo những tin tức hoạt động chống
đối, bạo động vũ trang của các tổ
chức đảng phái chống Pháp. Nhưng không nên
chỉ nh́n thấy hiện tượng trên mà đồng
hóa Thừa sai với thực dân hoặc đồng hóa TCG
và chế độ thuộc địa, v́ giữa các quan
chức thực dân và giáo sĩ thừa sai có mâu thuẫn sâu
sắc không thể ḥa giải được. Đó là mâu
thuẫn giữa hai ư thức hệ thù địch (công giáo
trị - Đạo chi phối đời và chủ
nghĩa chống giáo sĩ (anticléri-calisme) tách Đời
khỏi Đạo v.v...) chỉ có những liên minh giai
đoạn, tùy thời. Mâu thuẫn này lúc âm ỷ, lúc
dịu nhẹ. Lúc căng thẳng nặng nề v́ h́nh
ảnh về một chính quyền theo đạo, có
những Richelieu, Mazarin làm tể tướng như Puginier
đă mơ ước không c̣n ở Mẫu quốc và
ở các xứ thuộc địa. Những cuộc cách
mạng dân chủ, dân quyền đă chặt đầu
nhiều Hồng y, Giám mục, đă làm đổ biết
bao nhiêu máu để "đưa các cha cố về nhà
thờ" phân biệt tôn giáo và chính trị, do đó
những thể chế chính trị, xă hội, văn hóa,
nếu không vô thần ít ra cũng phi tôn giáo và những
người cai trị lănh đạo các thể chế
đó là những người chống giáo giáo sĩ trị
theo Tam điểm thù ghét sâu sắc công giáo... Phải nhận
ra mâu thuẫn kể trên mới hiểu tại sao có Giám
mục người Pháp lên nằm ăn vạ tuyệt
thực ở Phủ toàn quyền để chống
luật lệ về Trường tư thục hoặc
tại sao ở một vài chủng viện, cấm học
tiếng Pháp, chỉ học tiếng La tinh, quốc
ngữ, chữ Nho, và về chính trị, có lúc giáo hội,
thừa sai ngầm ngầm ủng hộ những phong trào
Duy Tân, cải cách, hoặc ngay cả những hành
động chống Pháp của tu sĩ, giáo dân VN, hay ít ra
không chịu thông báo, làm gián điệp, tiếp tay cho nhà
cầm quyền Pháp đàn áp những tổ chức
chống đối có người công giáo tham gia (Chúng tôi
căn cứ vào mấy báo cáo chính trị của Toàn
quyền Klobusiski gởi Bộ trưởng Bộ
thuộc địa và của Thông sứ Trung kỳ Sestier
gởi toàn quyền - Báo cáo của Toàn quyền 40.8.1908 và
24.8.1910 đoạn nói về thái độ của các
"Mission catholiques". Báo cáo của Thông sứ Trung
kỳ 24.10.1911 nói về những phần tử mà Sestier
gọi là không thể cải tạo được
(irréductibles) trong giới công giáo Nghệ Tĩnh (Già Châu Già
Thanh Châu) kẻ thù nguy hiểm nhất, liên kết với Phan Đ́nh Hiểu,
con Phan Đ́nh
Phùng, ảnh hưởng của họ sẽ
bị dẹp tan nếu như giáo quyền Nghệ Tĩnh
muốn giúp đỡ chúng ta")
Điều này cũng dễ hiểu thôi
một khi những thừa sai trên đặt Thiên Chúa giáo
trên hết và không c̣n thấy nước Pháp tạo
điều kiện thuận lợi cho việc truyền
đạo nữa.
Chúng tôi đă phác họa sơ lược
cái nền của vấn đề để người
đọc dễ dàng nhận diện trường hợp
Cố Du tŕnh bày sau đây. Đây là trường hợp
vẫn được coi như trường hợp Bá
Đa Lộc, nhưng về phía công giáo, theo tư liệu
được giới thiệu này không nh́n nhận như
vậy.
Cha du Marchand
1803-1835
Sau khi sự cấm đạo chấm
dứt trên toàn Á châu, năm 1900 Ṭa thánh La mă phong Á thánh cho
bẩy mươi bẩy người tử v́ đạo
được xét là xứng đáng tại Việt Nam và Trung Quốc. Trong 77
vị đó chỉ có 13 tử đạo ở Trung Hoa, c̣n lại 64
tại Việt Nam (người thứ 64 là cha Minh nếu
tính theo thời gian tử đạo). Trong 64 vị đó
chỉ có 10 người là giáo sĩ Tây phương,
chủ yếu là Pháp, trong đó có Giuse Du Marchand
Những thánh tử đạo đó đă
đi vào dĩ văng của dân tộc, một trang sử
không mấy vui. Chỉ có mỗi cha Du là c̣n gây tranh luận,
được nhắc nhở tới nhiều lần.
Một phần v́ cha bị xử lăng tŕ, một h́nh
phạt thảm khốc nhất của chế độ
quân chủ Trung Hoa
và Việt Nam. Một phần nữa lư do này mới là
chủ yếu: Minh Mạng kết án cha Du về tội
"pḥ ngụy Khôi, đă chịu tội có viết thơ
xin Hồng Mao và Xiêm sang giúp ngụy thần" (án của
Bộ H́nh tại Huế).
Nếu cha Du phù Phan Bá Vành
hay Cao Bá Quát
th́ danh ông cũng bị lăng quên như 63 vị thánh tử
đạo khác. Đằng này ông lại "pḥ ngụy
Khôi": cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi và Mâu
thuẫn Lê Văn
Duyệt, Lê Văn Khôi - Minh Mạng đến
nay vẫn là vấn đề tranh luận. Nếu theo
một luận điệu cho rằng phong trào Tây Sơn là
cách mạng nông dân và Nguyễn Ánh chống Tây Sơn là
phản động và Lê Văn Duyệt gốc nông dân lại
theo Nguyễn Ánh chống Tây Sơn c̣n phản động
đáng tội hơn nữa, th́ Lê Văn Khôi,
nghĩa tử của Lê Văn Duyệt, nêu danh nghĩa Lê Văn Duyệt
mà khởi nghĩa được toàn thể nhân dân (trong
đó đa số là nông dân) lục tỉnh ủng hộ,
phải được đánh giá thế nào.
Cuốn Sử lớp 11 phổ thông (Bộ
Giáo Dục 1977) đă nói về Lê Văn Khôi
như sau:
Bài 24: Nhà Nguyễn phục hồi (trang
175-182 sdđ), mục 2.
Chiến tranh nông dân phát triển mạnh
mẽ liệt kê 5 cuộc chiến, theo thứ tự là:
- Khởi nghĩa Phan Bá Vành
(1821-1827)
-
Khởi nghĩa Nông Văn Vân (1833-1835)
-
Khởi nghĩa Lê
Duy Lương (1833-1834)
-
Bạo động Lê
Văn Khôi (1833-1835)
-
Khởi nghĩa Cao Bá Quát (1854-1855)
Như vậy là 4 khởi nghĩa và một
bạo động, trích nguyên văn như sau (trang 180):
"Bạo động Lê Văn Khôi
(1833-1835) là một biến cố chính trị lớn ở
gia định (Nam Bộ) dưới triều Minh Mạng.
Lê Văn Khôi
vốn là em vợ Nông Văn Vân, về sau là con nuôi và
bộ tướng của Lê Văn Duyệt. Sau khi Duyệt
chết, Minh Mạng dựng lên vụ án Lê Văn Duyệt
và truy nă gia đ́nh thân thuộc của Duyệt, trong đó
có Lê Văn Khôi.
Khôi cùng các tù nhân người Bắc bị
đầy vào Gia Định bàn kế hoạch nổi
dậy. Dựa vào binh sĩ, giáo dân yêu nước, Hoa
kiều và được sự ủng hộ nhiệt t́nh
của nhân dân, nghĩa quân nhanh chóng chiếm
được toàn bộ 6 tỉnh của Gia Định.
Sau đó bị triều đ́nh phản động, Lê Văn Khôi
phải rút vào cố thủ ở trong thành Phiên An (Saigon),
kéo dài cuộc cầm cự ngót 2 năm.
Cuộc bạo động Lê Văn khôi không
phải chỉ là cuộc binh biến quy mô hay một
cuộc đảo chính cục bộ. Tuy xuất phát
từ mâu thuẫn các phe phái phong kiến, cuộc bạo
động vẫn mang đậm nét tính chất quần
chúng rộng răi, phản ánh ḷng bất b́nh của nhân dân Gia
Định đối với triều Nguyễn".
Từ đoạn sử trên, chúng ta
thấy quân của Lê
Văn Khôi được gọi là nghĩa
quân. Thành phần ṇng cốt là binh sĩ, giáo dân yêu
nước và Hoa kiều. Thành phần binh sĩ, các bộ
sử xuất bản đă t́m hiểu rơ ràng cấu trúc.
Thành phần Hoa kiều, đa số là gốc Quảng
Đông và là thủy binh, chỉ huy bởi một
người Hoa nhập tịch Việt Nam có tên
thường gọi là Bốn Bang. Nhân vật này cũng
bị xử lăng tŕ như cha Du và cũng như cha Du,
chết từ lâu mà chưa ch́m vào quên lăng v́ trong thời
gian chờ chết, Bổn Bang có viết một tự
truyện bằng tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm
theo thể thơ lục bát dài 308 câu, đặt tên là
"Bổn Bang thơ". Sự phát hiện ra tác phẩm
này, đă và sẽ là đề tài nghiên cứu văn
học và sử học.
Thành phần nồng cốt thứ ba
của nghĩa quân là giáo dân yêu nước. Ngay sau khi
chiếm được thành Phiên an (Saigon), Lê Văn Khôi
kế thừa chính sách của Lê Văn Duyệt, cho hủy bỏ ngay
lịnh cấm đạo của Minh Mạng. Biện pháp
này đương nhiên mang lại cho Khôi cảm t́nh,
ủng hộ của cộng đồng giáo dân, không
những của miền Nam mà c̣n của cả Việt Nam.
Khi đă phải rút vào tử thủ trong
thành Phiên An, số giáo dân trong thành, theo nhiều tư
liệu đối chiếu, là 2000. Các giáo dân này chỉ có
một linh mục Pháp duy nhất: đó là cha Du (Marchand).
V́ tính cách quan trọng của linh mục
này, khi tŕnh bày cuộc đời ông ta, chúng tôi theo sát
bố cục giữ nguyên các đề mục của
Matthêu Đức.
* Từ khi Á
thánh MARCHAND sinh ra cho đến khi người sang qua Nam
Kỳ (1803-1830).
Giuse Marchand sinh 17 Âout 1803 tại làng Passvant,
tỉnh Doubs, France, trong một gia đ́nh nông dân nghèo.
Học xong trường làng th́ ông phải bỏ học
để giúp đỡ cha mẹ. Măi đến năm 18
tuổi, nhờ cha sở giúp đỡ mới
được đi học "trường các thầy
cả" ở Orsans, rồi trường lớn ở
Besancon. Đến đây có bất đồng xảy ra:
cha sở muốn ông sau khi tốt nghiệp th́ trở
về quê nhà, c̣n ông th́ muốn di truyền đạo
nước ngoài. Trong thư gởi cha Sở, ông viết:
"Nếu phải lo cho hết thảy mọi kẻ
đă mất đức tin trong nước Langsa
đặng trở lại trước đă, sau mới nên
đi giảng truyền đạo thánh cho kẻ ngoại
quốc, th́ không c̣n ai có phép đi làm tông đồ giữa
dân ngoại đạo nữa". V́ chí đă định
như vậy nên năm 1828 ông lên Paris vào trường các Thầy
Hội giảng đạo ngoại quốc, gọi là Ḍng
sai. Tháng 5.1829 ông xuống tàu rời nước Pháp, thư
giă từ cha mẹ như sau:
"Trọng kính thăm cha mẹ yêu
dấu, nay con phải tỏ thật cùng cha mẹ: con không
trông thấy mặt cha mẹ dưới đất này
nữa. Từ bữa nay cho tới khi con phải ra đi,
không c̣n ngày đủ cho về Passavant kịp mà giă từ
cha mẹ. Mà chừng con xuất hành, th́ trông cậy ḷng lành
Chúa chẳng để cho con phải ngó lại sau lưng
bao giờ. Đức Chúa Giời đă không đoái lại
mà chọn con vào hàng quân lính Người, làm tông đồ
Người, th́ con quyết thẳng riết một
bề, lo cứu lấy linh hồn người ta, hết
ḷng sốt sắng tùy theo ơn Đức Chúa Thánh Thần
sẽ ban xuống trong ḷng con".
Ông mất 5 tháng mới tới Macao và ở
nơi này 4 tháng mới có dịp lén qua Nam kỳ và Minh
Mạng đă ban hành chỉ dụ 18 Février 1825 "cấm
đạo trưởng vào đất Annam". Ông rời
miền Nam đầu tháng 3-1830.
* Á thánh Du làm việc tông đồ -
Người trốn tránh ẩn ḿnh cho khỏi tay kẻ
bắt bớ (1830-1833).
Giám mục Taberd đặt tên Việt cha
Marchand là Du, cho học tiếng và phong tục Việt ở
trường Lái Thiêu. Nhiệm vụ đầu tiên
được trao cho cha Du là lên Nam Vang săn sóc Việt
kiều. Được ít lâu bị đau phải trở
về Lái Thiêu. Giữa năm 1831 được trao
việc đi thăm các họ đạo Nam kỳ một
thời gian th́ được điều động ra
săn sóc giáo dân B́nh Thuận. Trong một bức thơ, cha
Du kể lại cuộc sống của ḿnh nơi đó
như sau: "Địa sở tôi được hơn
7.000 bổn đạo, chia ra làm 25 họ nhỏ cách nhau xa
lắm. Cho đặng làm việc bổn phận tôi chính
đính, theo ḷng tôi mơ ước, th́ tôi không rảnh rang
đặng một giây phút nào, không có giờ mà đi
thăm lom truyện tṛ vô ích, hay là đánh bài, đánh
cờ... Mà vốn là tại tội muốn làm công
chuyện nầy, nên tôi đă cả ḷng bỏ hết
mọi sự, mà sang qua đây: tôi đă gặp đặng
sự tôi ước ao, cho nên tôi vui ḷng phỉ dạ
mọi đàng".
Năm Minh Mạng thứ 13, ngày 6 Janvier
1832, vua Minh Mạng ra chỉ cấm đạo với
nội dung: bắt Tây dương giáo trưởng giải
về kinh, giáo trưởng bổn quốc th́ giam ở
tỉnh, triệt hạ mọi nhà thờ cùng mọi cơ
sở TCG khác. Hậu quả, riêng tại Đàng trong,
bị phá hủy 300 nhà thờ, 18 nhà phước.
Thời gian này ở Đàng Trong có Giám
mục Taberd, 8 cha Pháp, một cha Ư, 17 cha V.N., giáo dân là 66.000
(sáu mươi sáu ngàn). Trong 9 ông cha tây th́ đă bị
bắt ngay ở Huế ba người (cha Sagelon và cha
người Ư Odoricô). Giám mục Taberd triệu tập
một buổi họp để đối phó với t́nh
h́nh mới - cha Du cũng có mặt v́ ông rời B́nh
Thuận ngay khi có lệnh cấm đạo. Giám mục
Taberd quyết định các cha VN rút vào bí mật mà lo cho
giáo dân. Taberd cùng ba cha Pháp bị các quan VN quen mặt th́
chạy sang Xiêm. Chỉ c̣n để lại 3 cha Pháp: cha
Delamotte ở "ngoài Quảng" cha Eringol ở B́nh Định,
và cha Du được giao "các họ Nam Kỳ".
Cha Du xuống miệt vườn mà không
ở đâu được lâu v́ cứ lộ diện là
phải lẩn trốn nữa: Cái Nhum - Cái Mông - Băi Xun Thâu
Râu, Rạch Rập... Có lần quan quân Vĩnh Long
rượt cha chạy như thú rừng bị săn: chui
vào rừng không xong, nấp trong cỏ tranh, băng sông vào
Sóc Mên, núp vào cả chuồng trâu mới thoát. Tới ngày 5
Mars 1833 cha được một số giáo dân đón
về Mặc Bắc, nay ở nhà người này mai ở
nhà người khác để tránh bố ráp, thường
th́ ban ngày nấp bờ bụi, đêm mới dám về
ngủ nhà giáo dân. Về sau căng thẳng quá, cha phải
ở trong rừng nơi nhà hoang một ḿnh, nơi rất
nhiều cọp. Người tiếp tế một bữa
đụng cọp, gọi cha:
" - Cha! Cọp đó!
" - Cha không sợ cọp bốn chơn,
một sợ cọp hai chơn mà thôi. Con đừng
sợ ǵ hết".
Một số giáo dân là hương chức
làng, sợ nếu quan quân bắt được cha th́
cả làng bị liên lụy nên tổ chức định
lừa cha xuống thuyền mà đưa đi Xiêm. Cha
biết được, từ chối không đi. Trong
bức thư viết cho cha Régéreau ở Nam Vang, cha Du
bầy tỏ tâm tư ḿnh như sau:
"Bây giờ c̣n một ḿnh tôi ở
lại đây mà cầm binh tháo trận. Tôi quyết chí
giữ đoàn chiến Đức Cha đă giao cho tôi,
dầu cho có phải thui râu, th́ tôi cũng đành ḷng
chịu. C̣n có một ḿnh tôi là cha tây ở giữa đàn
chiên Chúa, lẽ nào tôi cũng trốn, bỏ chiên đang
bị các thứ muông sói vây phủ tứ bề sao? Ôi!
Phải chi tôi đặng đi tứ phía, dùng mọi cách
thế mà làm cho bổn đạo mạnh ḷng chắc
dạ và vững tin hơn!"
Quan quân không ḍ ra dấu vết cha nữa,
suy diễn hẳn cha đă rời miền Nam nên bỏ
việc truy lùng. Cha rời rừng về sống với
giáo dân chưa lâu th́ cuộc bạo động Lê Văn Khôi bùng
nổ. Khôi hủy bỏ ngay việc cấm đạo. Cha
Du vẫn ở Mặc Bắc nhưng hoàn toàn tự do hành
đạo. Tính cha hiền lành, ăn uống giản
dị nhưng vui tính, có vẻ khôi hài. Cha có một ống
nḥm tốt, lúc rảnh hay quan sát từ xa các nhà giáo dân
biết nhiều vi phạm cấm điều để
bắt các người phạm tội sám hối sau đó.
Nhưng cha không nói tại sao cha lại biết nên nhiều
giáo dân cho là cha có phép lạ (huyền thoại này
được tăng cường bằng sự kiện
cha có học được vài tṛ quỉ thuật,
thỉnh thoảng biểu diễn với giáo dân để
cùng cười chơi. Một sự việc khác chứng
tỏ vẻ khôi hài của cha:
"Cha cũng vui vẻ lắm. Hồi Khôi
mới dậy giặc, thiên hạ dộn dực nhiều,
có kẻ muốn lên Gia Định mà coi cho hẳn công
chuyện làm sao. Khi ấy có cả Sách và xă Điện
cũng ức đi lắm, song sợ giặc bắt, th́
đến xin cha làm phép cách nào cho ḿnh đi mà chẳng ai
thấy đặng, v́ cậy rằng: Cha có nhiều phép
tắc lạ lùng. Cha mỉm cười mà nói rằng:
"Lấy cái bao nhím, chun vào, buộc túm đầu
lại, rồi mượn người ta khiêng đi, th́
không ai thấy" (Chi tiết này được ghi
lại trong "Nam Kỳ Địa phận" số 439
- 5.7.1917 trang 406-407)
* Ngụy
Khôi - Á thánh Du phải lên Gia Định - Người
phải tay binh trào (6 Juillet 1833- 8 Septembre 1835).
Về nguyên nhân gây cuộc bạo
động của Lê
Văn Khôi, tác giả Matthêu Đức kể
lại tương tự như Pétrus Kư trong Cours d'histoire
Annamite (Imprimerie du Couvernement Saigon 1877 20 volume p. 263), nghĩa
là chính tại Minh Mạng "dạy xử mồ
người một trăm trượng, và bỏ xiềng
ngang qua mả người (Lê Văn Duyệt)". Theo Bổn Bang,
người chỉ huy thủy quân của Khôi, kể
lại trong tự truyện "Bổn Bang thơ" cũng
có nói tới sự kiện Bạch Xuân Nguyên tính đào
mồ Lê Văn Duyệt
lên nữa.
Sau khi chiếm được Gia
Định, Lê
Văn Khôi xưng là Nguyên soái - đây là
chức vụ Nguyễn Ánh đă tự phong sau khi
đẩy lui Tây Sơn, chiếm được Nam bộ
lần đầu tiên - măi về sau mới xưng vương.
Tác giả Matthêu Đức viết đoạn sau rất
đáng chú ư:
"Vốn Khôi là người ngoại
đạo, và không có ư theo đạo, song bởi khéo tính,
muốn cho bổn đạo thật ḷng theo phe ḿnh nên
đă truyền cho nhơn dân lục tỉnh đặng hay
Nguyên soái băi các lịnh vua rao cấm đạo, lại ban
phép rộng cho giáo hữu đạo Thiên Chúa đặng
tụ hiệp nhau, lại lập nhà thờ nhà thánh, và cho
các đạo trưởng muốn giảng dạy tùy ư.
Trong bổn đạo có nhiều kẻ lầm mưu
ấy mà muốn theo ngụy, nhứt là v́ có ư đời,
muốn cho đặng làm quan lớn, cho đặng
của cải, nên đă nhập vào thành ngụy hơn hai
ngàn người.
Thật Nguyên soái Khôi cũng tỏ ḷng tin
tưởng người bổn đạo lắm, mà
đặt nhiều người lên chức nầy chức
khác, cũng có kẻ đặng chức lớn, như xă
Định đang làm giám thành. Tám cửa thành và hai kho
thuốc súng cũng phú cho lính có đạo canh giữ.
Song Khôi chưa bằng ḷng, c̣n muốn cho có
Đức cha hay là một cha Tây nào giúp ḿnh trong việc binh
lính, như xưa Đức cha Vêrô (Bá Đa Lộc) đă
giúp Nguyễn Ánh. Nên đă dạy ông Hộ bộ
thượng thơ (Khôi đă lập một triều
đ́nh riêng, có lục bộ như triều đ́nh
Huế.) lo hỏi cha Phước đang coi họ Chợ
Quán, cho biết c̣n thầy Tây nào trong đất Nam Kỳ
nầy chăng. Khi hay đặng c̣n cha Du ở tỉnh
Vĩnh Long, th́ tướng ngụy mừng lắm, bèn sai
kẻ đi mời cha lên Gia Định. Mà Cha không chịu
đi, hai phen như vậy. Khôi tức ḿnh, mà chẳng ngă
ḷng, mới toan bày mưu, sai binh lính ghe cộ xuống
rước Cha một cách trọng thể oai khí lắm. Có
đội Nhiêng (Đội: trong binh chế cũ,
đội không phải là trung sĩ mà là trung úy -
đại úy tùy binh chủng) là người bổn
đạo cầm binh; quan ngụy cũng sai biện
Quới, biện Nương và các chức Chợ Quán đi
theo nữa, cùng truyền cho đội Nghiêng rằng:
nếu Cha không chịu đi th́ phải bắt
người.Tới nơi đội Nhiêng và các chức
sắc t́m đặng Cha sang ở nhà tham Học, bèn tŕnh
sự Nguyên soái Khôi xin rước người lên Gia
Định. Cha hiểu ư th́ rằng:
"Tôi đi dạy đạo mà thôi;
việc giặc giă th́ tôi không biết. Phải mà Chúa sai tôi
đi đánh giặc, th́ một ḿnh tôi một tỉnh, tôi
cũng chẳng sợ. Mà sự ấy không phải
việc tôi".
Đội Nhiêng thưa rằng:
"Quan Nguyên soái này cho phép lập
đạo lại, cùng tin cậy bổn đạo
lắm. Mấy người có đạo ở trong thành th́
quan phân ra làm ba vệ, để canh giữ thành, v́ vậy
kẻ có đạo làm người tâm phúc. Nếu Cha không
chịu nghe lời mà lên, sợ quan sẽ giận mà chém
hết bổn đạo trong thành. Mà bây giờ bổn
đạo ở đó đông lắm".
Các chức cũng hiệp lực nài nỉ
cùng người, và xin người về cho gần gũi,
cho những con chiên đang lúc cheo leo đặng an dạ
vững ḷng hơn. Cha nghe vậy mới ch́u ḷng; song
người phân bua rằng:
"Khôi rước Cha th́ cha đi; mà Cha
không biết tới việc binh cơ giặc giă".
Thái độ do dự, không muốn tới
với Khôi của Cha Du cũng dễ hiểu. Minh Mạng
khi cấm đạo, đă đưa nhiều lư do,
nhưng là những lư do về tín ngưỡng phong tục
và văn hóa - chưa có lư do chính trị, kinh tế. Vậy
việc cấm đạo đă gay go rồi. Hợp tác
với Khôi, nếu mà thành th́ chả nói làm ǵ (không đoán
chắc được v́ quân chủ lực triều
đ́nh chưa vào, đụng độ quyết liệt
giữa hai bên chưa xảy ra). Nếu Khôi bại th́ Minh
Mạng chắc sẽ không phải chỉ cấm
đạo nữa mà c̣n diệt đạo như bên
Nhật Bản.
Nhưng không đi Gia Định th́ cũng
kẹt v́ ḷng dân đang hướng cả về Khôi. Cha Du
c̣n sống tới giờ phút đó là nhờ nhân dân
thương, hết ḷng che giấu. Nay chính thứ nhân dân
đó gây áp lực mạnh th́ Cha Du cũng kẹt: cứ ĺ
ra th́ uy tín sứt mẻ ngay. Cha Du tiến thoái lưỡng
nan v́ thế Cha chỉ quyết định đi khi có
lời nói của đội Miêng như đă ghi lại
trên, và chỉ đi v́ lư do tôn giáo: lo cho giáo dân thôi.
Tới nơi, cha Du ở chung với cha
Phước ở nhà thờ Chợ Quán:
"Song người không ở nhà thờ
luôn, v́ người chuyên đi viếng họ, có khi ở
nhà nầy, có khi ở nhà khác. Mà người không vào thành
Ngụy khi nào; dầu tướng Khôi sai các quan tới
viếng thăm nài nỉ người, người cũng
chẳng nghe, cũng không chịu dự tới việc binh
lính chút nào.
Một lần kia người đang dùng bữa,
th́ có quan Hộ bộ thượng thư tới, xin
người lo giúp viết thơ mướn tàu Hồng Mao
qua ngữ cửa Cần Giờ. Người đáp
lại rằng:
"Viết làm sao đặng? Tôi không
phải là người Hồng Mao, không biết tiếng nó,
lấy đâu mà viết!"
"Hồng Mao" đây là tên gọi
người Anh hồi đó. Vụ Hồng Mao này
được nêu ra nhiều lần. Trong bản án Minh
Mạng kết tội Lê Văn Duyệt giao thiệp với Anh và Miến
Điện. Trong bản án xử tử cha Du cũng có nêu
tội danh "có viết thư cho Hồng Mao... sang giúp
ngụy thần". Riêng về điểm này hoàn toàn dùng
ư. Cha Du là người Pháp, biết rơ cuộc chiến tranh
quyết liệt giữa Anh và Pháp: Đánh nhau trên lục
địa châu Âu, trên biển chưa đủ, họ c̣n
đánh nhau ở Mỹ châu giành đất (Pháp thua, mất
lưu vực sông Missiscipi Hoa
Kỳ, rồi mất luôn Canada) chưa đă,
họ c̣n đánh nhau ở Ấn Độ (Anh thắng
chiếm Ấn, chỉ để lại cho Pháp vài thành
phố nhượng địa). Vậy cha Du, cho dù có
biết tiếng Anh, cũng không thể viết thơ giúp
Khôi và điều đó rơ ràng là phản lại quyền
lợi Tổ quốc. Pháp của cha. Về tôn giáo, cha
lại càng có lư do để không viết thơ nữa:
người Anh đi tới đâu là truyền đạo
Tin lành tới đó. Là Linh mục Ki-tô giáo, liệu cha Du có
chịu tiếp tay cho mấy ông mục sư Tin lành không?
Khi binh triều đ́nh, mặt thủy
đă đánh bại thủy quân do Bổn Bang chỉ huy,
mặt bộ đă tiến đến gần Phiên An, cha Du
cố nhờ giáo dân chở lén về Mặc Bắc
nhưng không thành công. Sau đó là:
"Sau binh trào lấy đặng
đồn Cá trê, th́ Ngụy Khôi phải túng thế lắm,
nên muốn bắt Cha vào thành. Vậy đă sai quan quân kéo
nhau đi cách rầm rộ, cầm khí giới, súng ống,
cờ xí mà vô Chợ Quán với hai thớt tượng, t́m
Á thánh. Về ngoài th́ nói rằng đi rước
người cho ra lịch sự dễ nghe; song
tướng ngụy đă dặn xă Định (giám thành)
và phó thành Lựu rằng: "Nếu thầy Tây không
chịu đi như lần trước, th́ phải
bắt hắn bỏ lên tượng mà điệu về
thành".
... Phen này không thể chạy chối, v́
người hiểu tỏ ngụy quyết bắt
người; lại nếu không nhập thành th́ nay mai
cũng không khỏi tay binh trào, ắt là phải chết,
nên người ép ḷng mà đi, như đi chịu nạn.
Khi người lên voi th́ có bổn đạo tụ
hiệp vây phủ đông lắm mà đưa người
và khóc lóc, v́ không trông người khỏi nạn. Cha
cũng khóc lại nhiều lần rằng:
"Xưa quân dữ bắt ĐCG, nay quân
dữ cũng bắt thầy, Cha Phước cũng theo
người mà nhập thành".
Khi đă nhập thành, cha được
Khôi đối xử như thượng khách. Mặc dù
vậy, cha chỉ lo việc đạo thuần túy.
Trước mọi yêu cầu cho ư kiến, câu trả
lời điệp khúc của cha vẫn là: "Tôi chỉ
biết việc đạo... c̣n nghề giặc giă binh lính
tôi không thuộc". Sau cùng chính Khôi mời tới dinh,
nhờ Cha kư mấy bức thư gởi các họ
đạo yêu cầu theo Khôi, cha cương quyết
từ chối. T́nh trạng này được Cha Du kể
lại trong bức thư gởi Giám mục Taberd, như
sau:
"Đồn Saigon, 24 Septembre 1834
(22 tháng tám, năm giáp ngũ)
Thân lạy Đức Cha,
"Tôi nay đă hóa ra lính quân ngụy,
phải nhốt trong đồn làm một cùng ba bốn ngàn
dân B́nh Thuận cùng dân tỉnh khác. Xung quanh thành có không
biết là bao nhiêu binh vây. Nó chưa dám kéo lại gần
thành; song thủng thẳng sẽ tới... Quân ấy chém
giết bổn đạo nhiều quá lẽ, rằng có
lịnh Minh Mạng, nên phải đánh ngụy và bắt
đạo...
"Mấy tướng (ngụy) đă xin
tôi ra kiểu cho nó sắm cờ giống cờ hoàng
đế Constantinô. Tôi đă hết sức chối dài
với nó. (Là tại ông Phước đă nói cho nó nghe
truyện cờ Labarum của hoàng đế Constantinô). Tôi
nói lẽ với nó rằng: như Thiên Chúa chẳng
định cho nó thắng, th́ mọi sự sẽ ra
chuyện hại cho đạo mà thôi, v.v... Nó rằng rày nó
có ḷng tin kính Thiên Chúa, v́ vậy không lẽ cho đạo
thánh phải thiệt, một sẽ đặng tấn ích
mà chớ.
"Thân lạy Đức Cha, cách một
tháng nay Đức Ông (Khôi) đă sai sứ có đạo vô
Xiêm; mà trước th́ đă biểu tôi viết thơ cho
Đức Cha Xiêm và Đức Cha Đàng Trong, xin chớ
sợ mà về đây bằng an. Nay tôi dám xin Đức Cha
và các cha ở đâu th́ ở đó, để cho một
ḿnh tôi lao đao chịu trận, gánh sự nhọc
nhằn cơn bắt đạo và th́ giặc giă.
"... Hôm qua đây nhà thờ Chợ Quán
đă phải triệt hạ rồi. Giặc dă ở
xứ này làm quá ăn cướp nạn. Không phương
mà trốn, chẳng thể mà thoát. Nếu Chúa chẳng
đoái đến tôi tá Người, âu là nay mai đây tôi
cũng vong thân, và đạo thánh sẽ phải tuyệt:
xin Chúa cho khỏi sự ấy. Thiên hạ sẽ nói là
tại tôi làm căn đo chuyện hư hại nầy: ai
nói như vậy mặc ai, miễn là đừng trúng th́
thôi".
Sau khi vây hăm hơn hai năm, sáng sớm ngày
8 Septembre 1835 thành vỡ. (Những ngày tháng quan trọng, M.
Đức ghi đủ âm dương lịch. Chúng tôi
chỉ ghi lại dương lịch), Cha Du vừa hành
lễ Sinh nhật Đức Bà xong th́ binh triều xông vô,
đập Cha một hèo té xỉu. Sau đó trói rồi
xiềng, bỏ cha vào cũi: "Cũi ấy bề dài
chừng một thước tây, bề ngang chừng sáu
bảy tấc, bề cao đặng tám chín tấc; nên
ở trong ấy không khi nào người ngay ḿnh ra
đặng. Mà người phải nhốt luôn làm vậy
gần ba tháng, cho tới khi người chịu tử
h́nh". Sau khi chiếm thành, tướng chỉ huy binh
triều cho nhốt tù binh ngụy lại đợi
lệnh. Hai mươi ngày sau có chỉ của Minh Mạng
ra lệnh giết hết tù binh cùng gia đ́nh: "Quan quân
cứ theo chỉ ấy, ngày trước th́ giết
hết các người đàn ông, ngày sau th́ giết
đờn bà và con nít. Cha Phước cũng phải xử
lăng tŕ một lượt ấy. Kể hết thảy
đặng 1994 người" (trong số đó chỉ
có 66 người giáo dân. Kể hết nam nhân, 40 nữ nhân
và con nít). Chỉ chừa lại 6 người cho giải
về Huế: Tổng Trắm, đồ Hoành, Bổn Bang,
phó Nhă, con trai Khôi mới lên 7 và cha Du..
* Á Thánh Du
bị tra hạch, khảo ước và giam cầm
tại Huế.(15 Octobre - 30 Novembre 1835).
Chừng 10 ngày sau vụ giết tù binh và gia
đ́nh, 6 chính phạm được khênh trong cũi
về Huế và tới nơi ngày 15 Octobre cùng với
sọ Khôi. Ngày hôm sau được giải qua Tam pháp
thẩm vấn: sau khi hỏi quá tŕnh hoạt động
bản thân, Tam pháp hỏi về việc viết thư qua
Xiêm và giáo dân. Cha Du xác nhận những thư ấy có
nhưng cha không kư.
Nhưng ngoại trừ con Khôi mới 7
tuổi, khai thành thật là không thấy cha Du giúp bố nó
điều ǵ, c̣n 4 tù nhân kia "sợ chết muốn
khỏi tội, th́ cung khai dối trá mà đổ mọi
sự hết thảy cho tướng Khôi và cha Du...".
"Mấy tướng ấy khai rằng:
phó vệ úy Khôi đă cả ḷng kéo cờ loạn, là v́
Đức cha với các cha Tây xin như vậy, cho
đặng tôn ngôi cho An Ḥa là con ông Đông Cung
(Cảnh), cũng là cháu vua Minh Mạng. Lại nói ông hoàng
này đă hứa theo đạo Datô, nên ông Du ở lại
trong nước Annam cho đặng giục bổn
đạo theo phe ông ấy mà thôi. V́ vậy cả và Nam
Việt phải giặc trong giặc ngoài: trong nước
th́ có ông Du mưu sự cầm hốt cho dân nổi
ngụy; ở ngoài th́ có mấy đạo trưởng Tây
bắt chước Đức thầy Vêrô (Bá Đa
Lộc) xưa, ra khỏi nước mà xúi Xiêm làm giặc
cùng đức vua; và có lẽ cũng về Tây mà cầu tàu
bè binh lính nữa. Nó cũng khai rằng có Kiến An (là em
ruột mẹ với vua) đứng đầu giục loạn
nữa.
Mà thật trong lời dụ ngụy Khôi
đă rao ḿnh làm giặc v́ Kiến An, cho đặng An Ḥa
phục quốc. V́ vậy mấy tỉnh Nam Kỳ
liền vui ḷng ứng tiếng mà theo tức th́. Song ít lâu
sau các tỉnh muốn thấy An Ḥa, mà ngụy không đem
An Ḥa ra mặt đặng, v́ không có ông hoàng ấy trong Nam
kỳ, nên các tỉnh đă bỏ Khôi, tướng ngụy
phải rút về Saigon, kế binh trào tới vây (Ann. de la Prop de la Foi, an 1835, p.538).
Sau hết nó cũng đổ nhiều
điều cho chánh vệ Nghiêm, dầu quan này đă bỏ
ngụy từ mấy tháng đầu, và hằng giáp binh
trào mà vây Saigon. Khi nghe những điều dối trá ấy
th́ vua Minh Mạng giận lắm, bèn dạy xử tử
hai con ông Đông cung, song cũng v́ t́nh mà cho hai ông ấy
đặng tam ban triều điển. Hai ông ấy đă
uống thuốc độc làm một với mẹ ḿnh.
Về Kiến An th́ chẳng hiểu vua đă lên án thế
nào. C̣n Chánh Nghiêm th́ đă xử tử, song không bị
xử nặng như mấy tướng giặc khác (Ann.
de la Prop. de la Foi, an 1837, p.576-577).
Bằng về cha Du th́ vua dạy phải
khảo lược mà ép người chịu tội
đồng t́nh cùng ngụy đảng, hầu dùng dịp
ấy mà vu vạ cho các thầy giảng đạo".
Vế cái chết của vợ và hai con
Đông cung Cảnh, Trương Vĩnh Kư (Cours d'Hist. Ann.
II, p.260, Saigon 1877) ghi là Minh Mạng đă giết từ lâu
bằng cách tư thông với bà mẹ cho tới có bầu
rồi viện cớ tội loạn luân mà giết cả
ba. Theo nhận xét của chúng tôi sự ghi chép của Matthêu
Đức căn cứ tài liệu của TCG đáng tin
cậy hơn v́:
- Ghi lại bởi chứng nhân
đương thời (1835-1837);
- Hậu sinh có thể chê trách ǵ về Minh
Mạng th́ chê, nhưng về t́nh dục th́ có lẽ không.
Minh Mạng là một nho sĩ nghiêm túc, lại có đủ
vợ - hơi nhiều là khác - cho nhu cầu sắc
dục, không v́ lẽ ǵ phải tằng tịu với bà chị
dâu đă quá thời xuân sắc.
Về cha Du, từ trước tới nay
vẫn được hỏi cung tử tế. Bây giờ
có lệnh vua bắt phải nhận tội xúi giục và
hợp tác với Khôi từ đầu. Dĩ nhiên cha không
nhận. Cha bị tra tấn để phải nhận.
Chúng tôi ghi lại các đoạn đó v́ từ
trước tới nay chưa có sách nào mô tả đầy
đủ như Matthêu Đức:
"Quan liền dạy tra kềm kẹp
người. Quân h́nh lư xáp lại, hai đứa nắm
người hai bên, một đứa khác vo quần
người lên bày hai bắp vế; đoạn một tên
khác lấy kềm đă nung đỏ trong ḷ, mà kẹp
người nơi bắp vế tả. Cả và công
đàng đều nghe thịt cháy xèo xèo. Quân lính ở
kế người chịu mùi khói không nổi, phải day
mặt qua phía khác. Thánh tử đạo ngửa mặt lên
trời, la một tiếng, đoạn xỉu xuống.
Lính cứ bóp kềm cho tới khi nguội. Cách chừng
nửa giờ quan hỏi lại nữa; người
cũng cứ không chịu như trước, th́ quan
dạy kẹp ở bắp vế hữu người,
cũng một cách ấy; người phải ngă xuống
một lần nữa. Dầu phải đau đớn quá
lẽ, song người chẳng chịu xưng ḿnh làm
ngụy cùng vua, như ư các quan muốn bắt ép
người xưng".
Đó lần thứ 1 cha Du bị tra
tấn. Những cuộc hỏi cung sau th́ chỉ thẩm
vấn, dỗ dành bỏ đạo, kéo dài hơn sáu
tuần. Trong thời gian này cha Du cùng 5 người kia
vẫn ở trong cũi, mỗi cũi cách nhau chừng 2
thước, lính canh thường xuyên. Và cũng như
đă thấy về cha Minh, Lái Gẫm, chế độ
lao tù triều Nguyễn dễ dăi về việc thân nhân bè
bạn thăm viếng. Cha Du được nhiều
người tặng quà và cả sách đọc. Sau cùng Bộ
h́nh thừa lệnh vua công bố án:
"Tây dương Ma Sang ( Marchand), kêu là danh Du,
là Datô giáo trưởng, pḥ ngụy Khôi, đă chịu
tội có viết thơ xin Hồng Mao và Xiêm sang giúp
ngụy thần. Lịnh truyền xử bá đao" (Bá
đạo: Bá đạo là một trăm lần đao
xẻ thịt. Sau miếng thứ 100 nếu chưa
hết th́ được hóa kiếp bằng chặt
đầu rồi xả thây làm 4. Theo Shreiner th́ cứ
xẻo cho tới trơ xương rồi nam cắt
dương vật, nữ mổ banh bụng.
Tổng trấn, đồ Hoành, Bổn Bang
và con Khôi đều bị án tương tự - phó Nhă
đă chết trong cũi.
*Á thánh Du chịu tử h́nh v́ đạo
(30 Novembre 1935)
Sáng 30 Novembre 1835, bẩy phát đạn
đại bác nổ báo hiệu xử tử. Các tử
tội bị lột hết áo quần, thay bằng
khố, đeo vào ngực một bảng tên, hai tay trói vào
cây ngang, chân trói vào cây đứng của thập tự
đặt trên một tấm khại (Khại: ván hay phên
tre?). Cứ 4 lính khiêng một khại đi giữa hai hàng
quân tới Ngọ Môn, nơi vua quan đợi sẵn.
Tử tội được cởi trói để lạy
vua 5 lạy. Vua ném cây cờ lệnh ở tay xuống:
lệnh tử h́nh thi hành.
B́nh thường, tử tội
được đưa thẳng ra pháp trường.
Lần này lại đưa qua Tam pháp - cơ quan
điều tra - một lần nữa. Và cũng chỉ
một ḿnh cha Du bị dùng cực h́nh kẹp bằng kềm
nung đỏ, lần này 5 kềm kẹp bắp chân trái
một lúc, để rồi hỏi một câu: "v́ ư ǵ
bên Da-tô bay múc mắt mấy người gần chết làm
chi?". Lại 5 kềm nung đỏ nữa vào chân
để rồi quan hỏi câu: "Chớ sao mấy
người kết hôn lại đến cùng thầy
đạo trước bàn thờ làm chi?" Sau cùng lại
5 kềm nữa để hỏi: "Vậy chớ cái
bánh ǵ đó, bay dùng làm bùa mê thuốc lú, mà phát cho mấy
đứa đă đi xưng tội, mà làm cho nó mê đạo
lắm bấy?"
Đến câu hỏi chót th́ cha Du không c̣n
sức trả lời. Việc tra khảo thêm tử
tội trên đường ra pháp trường là truyện
ít khi thấy. Vậy vua quan hồi ấy muốn ǵ khi tra
tấn thêm một ḿnh cha Du? Matthêu Đức th́ lư giải
là tại cha Du là linh mục nên Minh Mạng hành hạ thêm
thôi...
Đến đây th́ tử tội
được cho ăn bữa chót. Cha Du từ chối.
Sau khi bốn người kia ăn uống no say th́
đến thủ tục chót: "Đoạn nó bắt cha
cùng mấy người ấy ngậm mỗi người
một viên đá, và khớp miệng lại hết thảy
- cái khớp ấy làm bằng tre, nó buộc thắt
lại sau ót, mà riết chặt lắm, cho mấy
người ấy chịu lắt thịt, th́ la
đừng ra tiếng". Tất cả lại
được khênh tới pháp trường. Quân lính
đẩy lui dân cách xa chỗ hành tội độ 30m.
"Vừa tới nơi th́ lính mở
năm người ra khỏi mặt khại, và giựt
tấm ướm có đề tên mỗi người mà
quăng đi; đoạn liền nắm cánh tay mỗi
người mà kéo sát mỗi cây trụ, bắt đứng
thẳng mà trói ngang lưng vào trụ, hai tay th́ buộc vào
cây ngang; chơn th́ chẳng trói. Mỗi người có hai
tên h́nh lư trấn thủ đứng chực hai bên, một
tay cầm kềm, một tay cầm dao, lại có hai tên khác
ở kế đó nữa một tên để lo
đếm mấy miếng thịt đă lắt ra, c̣n tên
kia để lo biên kư.
Khi đă nghe một hồi trống
lịnh đoạn th́ thánh Tử đạo bị nó
cắt da trên trán, lột xuống mà che mặt
người. Kế đó lấy kềm bắt hai vú
người, cắt mà quăng xuống đất. - Khi
ấy có một thầy giảng đứng xem
trước mặt người, mà không thấy
người day động chút nào. Rồi quân dữ
kềm hai bên bàn tọa, mà cắt thêm hai miếng thịt
khác: thánh Tử đạo giăy giụa và ngước
mặt lên trời, dường như xin Chúa thêm sức
mạnh mà chịu cho đủ đỗi. Bởi đau
quá th́ người có la lên, song không ai nghe đặng
người nói chi, v́ miệng mắc khớp chặt
lắm. Đoạn nó xẻo hai miếng hai bên trái vế:
khi ấy sức tự nhiên chẳng c̣n, nên thánh Tử
đạo gục đầu xuống, linh hồn ĺa xác mà
bay thẳng về trời lănh phần thưởng
đời đời...
"... Á thánh Du tắt hơi rồi, th́ tên
tả đao bước lại, nắm tóc người kéo
lên mà chém đầu người. Đoạn bỏ
đầu thánh ấy trong một ảnh vôi lớn. Xác
người th́ nó tháo dây trói, xô sấp xuống đất,
đoạn sả tư ra, như khúc cây vậy, sả
dọc trước, rồi chặt ngang. Bốn
người kia đang khi ấy c̣n bị quân h́nh lư xẻo
từ miếng thịt, khi đủ số 100 miếng th́
tả đao chém đầu mới chết.
"... Xử tử rồi th́ quân ấy
đă lượm hết mấy khúc xác sả tư cùng
mấy miếng thịt to nhỏ ấy hết thảy, mà
quăng lộn lạo vô nhiều thúng; đoạn bưng
xuống ghe, và có quân lính chèo tới thủ ngữ cách
chừng hai dặm, mà giao cho quan thủ ngữ đi
đổ ngoài khơi.
"Quan giữ lại đầu Á thánh Du,
với một cái đầu ngụy cùng hai sọ ngụy.
Lịnh vua dạy đem hai đầu và hai sọ ấy
đi bêu khắp cả và nước; tới chợ nào th́
cũng bêu ba bữa cho thiên hạ sợ... Sau hết khi
chở về tới kinh đô, th́ đầu Á thánh Du
đă phải bỏ vào cối mà đâm nát ra, đoạn
bỏ xuống biển. Cho nên về xác thánh người
th́ không c̣n giữ đặng một dấu tích nào cả".
Cuốn sách của Matthêu Đức
chấm dứt bằng một câu phụ lục: phóng
sự ghi lại buổi lễ phong thánh cho 77 tử
đạo tại Đông dương và Nam Trung Quốc trong đó
có cha Minh, Lái Gẫm và cha Du tổ chức tại Rôma ngày 27
Mai 1900. Mỗi thánh tử đạo được ghi rơ
gịng tu, tên họ và ngày tháng cùng nơi tử đạo.
Về thể văn, phụ lục này
được viết theo kiểu phóng sự của các kư
giả hiện nay.
Kết
luận
Tài liệu của Matthêu Đức cho
biết thế nào về Cố Du: Từ trước
đến nay, vẫn có ư kiến cho rằng Cố Du dính
vào chính trị với ư đồ như của Bá Đa
Lộc. Chính chúng tôi cũng đă nghĩ và viết như
vậy. Nhưng vụ thẩm vấn ở Huế cho
thấy:
Triều đ́nh cuối cùng phải
nhận Cố Du chỉ có tội truyền giáo mà thôi, không
phải làm chính trị theo Khôi, nhưng khi tuyên án, vẫn
cứ khép vào tội chính trị, do đó nếu căn cứ
vào chính Sử th́ dễ tin ư kiến đă nêu trên.
Những người dè dặt cũng
vẫn có thể nghi ngờ Cố Du, trách tại sao lên Gia
Định, tạo ra một t́nh trạng "hàm hồ
(ambigu) không thể không gây hiểu lầm hoặc thắc
mắc cố Du vẫn có ư đồ ǵ về chính trị?...
Nhưng nếu đừng nh́n với con
mắt giản đơn, cái ǵ cũng qui về chính
trị và nh́n nhận những động cơ tôn giáo th́ sẽ
hiểu rơ ngay: Cố Du lên Gia Định v́ nghiệp
vụ, v́ giáo dân mà ông có trách nhiệm phải coi sóc, không
thể trốn lánh được nhất là khi chính họ
đă yêu cầu. Do đó ông quyết định theo
tiếng gọi của nghiệp vụ, bất chấp có
thể bị hiểu lầm, bị kết án do
người đương thời, hay người
đời sau như ông đă nói rơ. Một cách b́nh thản,
vững tâm v́ cuối cùng chắc ông nghĩ chỉ có Chúa
biết là đủ rồi...
Phụ
l ục
Trong phụ lục này, sẽ trích lại
các cuộc thẩm vấn cha Du kể từ khi bị
bắt giam cho tới khi bị xử tử. Sau mỗi
đoạn trích, sẽ có phần nhận xét của chúng
tôi.
* Khi cha Du
mới bị bắt
"Khi đă bắt đặng Á thánh
nầy rồi, th́ quan lớn dạy che một cḥi ngoài
lũy thành, gần nơi cửa tiền, xung quanh rào
lại chắc chắn lắm, mà cấm riêng một ḿnh
đó; đêm ngày có hai tên lính canh giữ luôn, - Đoạn
các quan đă hội công đàng ngoài thành, nơi gọi là
Thổ Sơn, đ̣i cha đến mà hạch xét ba lần.
Đầy tớ Chúa tới dinh, ra mắt các quan, chẳng
sợ hăi, cũng không áy náy chút nào; người không mang
gông, cũng không bị xiềng; ḿnh mặc một cái áo dài
đen, đầu trần, chơn không.
Phen trước quan hỏi rằng:
- Thầy ở trong xứ nầy
đặng bao lâu nay?
-
Tôi ở đây đă lâu.
-
Thầy đến đây mà làm ǵ?
-
Tôi đến giảng đạo Thiên Chúa.
-
Thầy rằng đến giảng đạo Thiên Chúa; mà
sao thầy ở trong đồn ngụy nầy?
-
Hồi đó tôi ở dưới vườn, người
ta rước tôi về Chợ Quán; sau kế ngụy nó
bắt tôi nhập thành và cầm tôi đó không cho ra.
-
Thầy có làm ǵ mà giúp ngụy chăng?
-
Tôi chỉ lo một chuyện đạo mà thôi.
-
Thầy có vợ con ǵ không?
-
Phận tôi là khí tục tinh tu, mà có vợ con làm sao
đặng?
-
Ngụy đă đem thầy vào thành, mà thầy không làm ǵ
giúp nó sao?
-
Tôi biết có một sự giảng đạo mà thôi.
-
Giảng đạo là giống ǵ?
-
Là đọc kinh, làm lễ, và dạy dỗ bổn
đạo.
-
Thầy có biết làm thuốc mê mà dỗ ḷng ngụy, cho nó
theo chăng?
-
Tôi biết có một việc giảng đạo mà thôi.
Tra hạch đoạn các quan dạy
dẫn người về cḥi. - Hai lần sau quan cũng
hỏi người như vậy; người cũng
cứ thưa lại bấy nhiêu điều" (trang 151,
152, 153).
Nhận xét: Thời gian này, quân đội
chính qui của VN thẩm vấn. Họ đối xử với
cha Du như một tướng lănh địch bị
bắt làm tù binh: không gông, cùm, cách xưng hô lịch sự,
tôn trọng kẻ bị bắt.
* Tam pháp ty
thẩm vấn lần đầu
"Khi vừa tới nơi (Huế) th́ cha
Du liền phải giam trong trại Vơ Lâm gần Tam pháp. Qua
ngày sau, là 25 tháng tám (16 Octobre 1835), lịnh truyền đem
người ra khỏi cũi, mà dẫn đến Tam pháp -
Quân h́nh lư đem các đồ khảo lược: roi,
trượng, kềm, kẹp, mà bày bố ra trước
mặt người cho người sợ. Quan tra hạch
rằng:
- Người có phải là Phú Hoài Nhơn
chăng? (Phú Hoài Nhơn là tên Hán Việt của Giám mục
Taberd thường chỉ dùng trên giấy tờ, tên
Việt thông dụng là Từ).
- Tôi không phải là ông Phú Hoài Nhơn.
-
Ông ấy bây giờ ở đâu?
-
Tôi không biết.
-
Người có biết ông ấy chăng?
-
Tôi biết lắm; mà đă lâu tôi không gặp người.
-
Người ở trong nước này được bao lâu
nay?
-
Đặng năm năm nay.
-
Mấy năm đầu người ở đâu?
-
Trước hết tôi ở Lái Thiêu; sau tôi ở nhà
nhiều người, mà rày họ chết rồi.
-
Người có giúp Khôi làm giặc chăng?
-
Không. Ông Khôi cho quân đi bắt tôi mà đem về Saigon. Công
chuyện giặc giă th́ tôi chẳng từng. Tôi chỉ
một việc cầu nguyện cùng Chúa và làm lễ lạt
mà thôi.
-
Có phải người gởi thơ vô Xiêm, cùng gởi
thơ cho quân Datô trong Đồng Nai, biểu nó đến
giúp ngụy chăng?
-
Ông Khôi có biểu tôi viết thơ, song tôi không chịu
viết, một nói cho ông ấy hay đạo tôi cấm làm
chuyện làm vậy, và tôi thà chết, chẳng thà làm theo
lời ông ấy. Dầu vậy ông Khôi cũng c̣n đem
mấy bức thơ ra, biểu tôi kư tên vào; th́ tôi lấy
mấy cái thơ đó mà đốt đi trước
mặt ông ấy.
Lần này quan tra hạch bấy nhiêu
điều mà thôi, và không dạy quân gia h́nh đầy
tớ Chúa. - Cơ vấn đoạn dẫn người
về trại Vơ Lâm, mà nhốt lại trong cũi như
trước" (sđd trang 154-155).
Nhận xét:
Tam pháp ty là cơ quan vừa có nhiệm
vụ điều tra vừa có nhiệm vụ xử án.
Mọi người bị bắt đến đây
đều là can phạm, nên gọi là "ngươi".
Để ư sự kiện điều tra thời kỳ này
chỉ xoáy trọng tâm vào truyện thư từ: thư
đi Xiêm, thư kêu gọi giáo dân miền Nam giúp Khôi.
Như vậy chứng tỏ tin tức t́nh báo của
triều đ́nh Huế đến lúc đó (phần
nhiều do t́nh báo Quân đội) không nói tới sự
hợp tác của cha Du với Khôi. Theo ư chúng tôi, tin tức
t́nh báo của quân đội là chính xác nhất v́ chính quân
đội thẩm vấn tù binh, hàng binh (trốn từ
thành ra sau này) trước tiên.
* Sự
chuyển hướng thẩm vấn của Tam pháp.
- Sau khi điều tra các tướng kia
của Khôi, Tam pháp dùng cực h́nh tra khảo bắt cha Du
nhận tội âm mưu từ đầu và hợp tác
với Khôi. Cha cương quyết phủ nhận, Tam pháp
chuyển hướng, không đ̣i hỏi cha nhận
tội đời nữa, mà nhận tội về
đạo: theo đạo dụ cấm đạo
hiện hành, là linh mục truyền giáo ngoại quốc c̣n
trốn trong lănh thổ VN, là đương nhiên xử
trảm:
"Quan thấy không có lẽ nào mà làm
tội cho người về chuyện giặc
đặng, th́ không c̣n nói đến chuyện ấy
nữa, một bắt tội người về việc
đạo mà thôi, v́ chẳng những là người
chẳng chối, mà lại hằng xưng ra tỏ
tường ḿnh là đạo trưởng và lo giáo huấn
nhơn dân theo chính lư E-vang. Vậy quan rằng:
- Ngươi cứ chối một bề
rằng: người không hề biết đến
chuyện binh cơ giặc giă, th́ thôi... Mà người không
chối đặng về việc đạo: người
đă đến nước này mà dạy đạo, mà
ngươi biết có lịnh đức vua cấm
nhặt sự ấy. Tội nầy đáng h́nh khổ
nạêng lắm... Nhưng vậy nếu ngươi
đành ḷng xuất giáo và khóa quá thập tự, th́ ta xá cho
ngươi khỏi mọi phần phạt.
- Nhà quan mở lượng rộng thế
ấy, th́ đội ơn nhà quan; song tôi chẳng hề
xuất giáo. Tôi thà chịu mọi thứ h́nh khổ quái
gở, chẳng thà thất trung cùng Chúa tôi dường
ấy.
Các quan bèn nói xúc phạm cùng bỏ vạ cho
đạo thánh nhiều đều xấu xa quái gở quá
lẽ, như quan Rôma xưa trong mấy đời bắt
đạo ban đầu, khi mới có Hội thánh,
rằng: các thầy cả làm phép phù chú, dùng phép Thánh thể
làm bùa mô thuốc lú, cùng quyến dụ đờn bà con gái,
và nhiều chuyện nhớp nhúa gớm ghê quá, không lẽ
thuật lại đặng... Thánh tử đạo đáp
lại rằng:
- Các việc ấy chẳng có chút nào. Đó
là những chuyện mị mộng kẻ ghét đạo
bày ra mà vu cho bổn đạo mà thôi. Ví như trong
đạo có làm những chuyện thể ấy, th́ có ai
theo đạo làm chi.
Người cũng kể ra nhiều
lẽ trong đạo dạy, mà làm chứng đạo
người giảng là đạo lành, đạo thánh.
Dầu đă rơ ràng Á thánh Du chẳng có
tội nào sốt, th́ các quan cũng đă luận án cho
người, trong án đề những đều oan vu cho
người và cho đạo thánh nữa. Như nói rằng:
Quân Datô dùng thứ nước cam lồ; đạo
trưởng nó múc con mắt người ta mà làm
nước ấy; - c̣n bánh phát cho bổn đạo; th́
thầy đạo dùng phép tà ma ếm chú mà làm ra, vân
vân...". Sau hết án ấy nói thêm rằng: v́
người có tội giảng đạo dị đoan là
đáng tội chết".
Nhận xét:
Chúng ta quen thuộc với các lư do cấm
đạo ở b́nh diện cao: sự va chạm với
tục thờ cúng tổ tiên, sự duy ngă độc tôn
của TCG, TCG làm mất sự thống nhất tôn giáo
của VN, làm giảm hay chia xẻ th́ đúng hơn - ḷng
trung quân ái quốc của ḷng dân theo đạo... Đoạn
văn trích trên cho thấy để biện minh cho chính sách
cấm đạo, vua quan Minh Mạng không hề nói tới
các vấn đề cao siêu ấy... Họ có khả
năng tuyên truyền dịch không kém những lời tuyên
truyền hiện nay khi đưa ra những lư do khác,
hợp với tâm lư quần chúng hơn.
Tra khảo không thể kết án cha Du
về Chính trị được, mà về đạo thôi,
nhưng khi tuyên án, th́ vẫn kết án về Chính trị:
"Sau hết bộ h́nh thừa lệnh
vua mà đề án lại rằng: Tây dương Ma
sang, kêu là danh Du, là Datô giáo trưởng, pḥ ngụy khai
đă chịu tội có viết thư xin Hồng Mao và Xiêm
sang giúp ngụy thần. Lịnh truyền xử bá
đạo".
Đầy tớ Chúa bị án giam ngược
thế ấy, th́ cứ một bề noi gương Quan
thầy ḿnh xưa cũng đă bị cáo gian và chịu
xử một cách oan ức nhuốc nha đau đớn.
Người đành ḷng mà chịu hết mọi sự
khốn cực hầu báo ân trả nghĩa Chúa".
Vấn
đề cố Du (Marchand), Trần Trọng Kim trong
Việt Nam Sử Lược trang 208 đặt vấn
đề thành nghi vấn, như sau:
"Ông Silvestre chép truyện Lê Văn Khôi
khởi loạn ở Gia Định nói rằng trong 6
người thủ phạm phải đóng cũi giải
về Huế, có một ông linh mục người
nước Pháp tên là Marchand (bấy giờ gọi là cố
Du), một người khách tên là Mạch Tấn Giai và
một đứa con của Khôi, mới lên 7 tuổi.
Việc ông cố Marchand th́ đă nhiều
người bàn đi bàn lại, người th́ bảo ông
ấy có ư muốn làm như ông Bá Đa Lộc, để giúp Lê Văn Khôi
lập nên một nước theo đạo Thiên Chúa ở
Gia Định, người th́ bảo ông ấy bị Lê Văn Khôi
bắt vào trong thành. Việc ấy vẫn phân vân không rơ
hẳn ra thế nào.
Đến khi về đến Huế th́
ông Marchand và 5 người kia đều phải tội
lăng tŕ. Thiết tưởng dầu thế nào mặc
ḷng, đem một đứa con vô tội và 2 người
ngoại quốc ra làm cái tội thảm h́nh ấy, th́
thật ghê gớm quá".
Hồ Biểu Chánh trong Ngọn cỏ gió
đùa trang 200-201 ghi nhận: "Mấy vị mưu
sĩ ở trong thành bàn khuyên Lê Văn Khôi làm theo như vua Gia Long lúc
phục quốc. Lê
Văn Khôi nghe lời, bèn sai người
nhứt diện qua nước Xiêm La mà viện binh,
nhứt diện đi t́m một vị linh mục
đạo Thiên Chúa rước vào thành mà vấn
kế".
Sự thực là thế nào? Chúng tôi đă
giới thiệu một vài tài liệu về phía Công giáo,
đáng chú ư hơn cả là thơ của Cố Du gởi
cho bề trên của ḿnh là Giám mục Taberd ngày 24-9-1834. Có
thể tin những tài liệu kể trên không?
Theo truyền thống Thiên Chúa giáo, mỗi
hồ sơ phong thánh đều được sưu tra
kỹ về lư lịch bản thân, gia đ́nh và cuộc
đời - sưu tra thật tỉ mỉ, đề
đạt tới chính xác ở mức tối đa nên
mới thấy ghi rơ không những thư từ trao
đổi mà cả quần áo mặc đồ dùng khi
sống lúc chết, và chôn cất ra sao... những
người cung cấp tài liệu, làm chứng không thể
dối trá v́ họ đều hiểu rất rơ họ có
thể lừa dối con người, không thể lừa
dối Thiên Chúa là đấng thông suốt mọi sự, và
nếu họ cả gan phạm tội lừa dối,
họ phải biết đó là tội rất nặng, và
tội nặng th́ sẽ bị trừng phạt ra sao - sa
hỏa ngục đời đời! Do đó có thể tín
những sự kiện được ghi, kể lại
từ phía những người Công giáo.
Những sự kiện chính là:
1. Cố Du bị ép lên Gia Định.
2. Thực sự có đề nghị
cầu viện ngoại quốc qua trung gian Công giáo do Lê Văn Khôi
khởi xướng kiểu Bá Đa Lộc - Gia Long.
Nhưng cố Du từ chối.
3. Khi bị bắt tra tấn, triều
đ́nh phải nhận cố Du không có tội về chính
trị, chỉ kết tội về tôn giáo, nhưng khi làm
án vẫn kết tội về chính trị.
4. Lănh đạo công giáo (giáo sĩ, giáo
phẩm) không tham gia vào vụ bạo động, nhưng
giáo dân (và có thể là đông đảo) có tham gia v́ mục
đích tôn giáo (được tự do giữ đạo)
và chính trị (chia sẻ quyền hành nếu thành công). C̣n
vấn đề nguyên nhân, động cơ cần t́m
hiểu giải thích:
- Tại sao giáo dân ủng hộ Lê Văn Khôi và Lê Văn Khôi t́m
sự hậu thuẫn chính trị trong giới công giáo.
Khi c̣n sống Lê Văn Duyệt không thi hành lệnh
Minh Mạng cấm đạo là lẽ đương
nhiên, và cũng đương nhiên dân đạo Thiên Chúa
thích Khôi, ủng hộ Khôi, kẻ đă mang lại tự
do tín ngưỡng cho ḿnh. Ngược lại một lănh
tụ như Khôi tất nhiên phải t́m cách lợi dụng
sự ủng hộ của công giáo sao cho có lợi
nhất, và cách lợi hơn cả, ngoài việc giáo dân tham
gia, là làm sao cho cả giáo phẩm tham gia, là trung gian vận
động cầu viện bên ngoài. Cố Du bị
cưỡng ép từ Vĩnh Long lên Chợ Quán từ
Chợ Quán vào thành Phiên An là v́ thế.
- Nhưng tại sao lại có hiện
tượng cưỡng ép như thế? Hay nói cách khác
tại sao Cố Du không sốt sắng làm như Bá Đa
Lộc; tuy sau cùng cũng không cương quyết từ
chối triệt để đề nghị của Khôi,
do đó gây ra những dị nghị chính đáng?
Thư của cố Du gởi cho Taberd cho
thấy ông chỉ muốn làm một người lo
việc đạo mà thôi, không muốn dính líu vào chính
trị và tin rằng mọi sự đều do Chúa xếp
đặt, nên ủng hộ một người lên cầm
quyền chưa chắc đạo v́ thế mà
được nhờ, nhưng nếu việc ủng
hộ thất bại th́ chắc chắn đạo
thiệt. Lập trường này là điều
thường thấy, ngay cả thời Bá Đa Lộc,
Cố Du. Tài liệu sử giáo hội thời kỳ này cho
thấy có nhiều chức sắc trong giáo phẩm cùng
Hội truyền giáo với Bá Đa Lộc giảng
đạo ở Trung Quốc,
ở Việt Nam không tán thành đường lối
của Bá Đa Lộc, dựa vào luận điểm
kể trên (qua thư từ họ gởi cho Bá Đa
Lộc).
Do đó, không nên coi lựa chọn của
Bá Đa Lộc là tiêu biểu cho lập trường chính
thức của giáo hội (cũng như sự lựa
chọn của Bùi Chu
Phát Diệm sau này) và từ đó suy diễn
Cố Du cũng phải làm như Bá Đa Lộc.
Đó là về nguyên tắc; trong thực
tế lănh đạo công giáo sớm nhận ra Lê Văn Khôi
sẽ thất bại v́ Khôi khởi nghĩa để pḥ
An Ḥa, con của Đông cung Cảnh, lên làm vua, nên
"mấy tỉnh Nam kỳ liền vui ḷng ứng
tiếng mà theo tức th́. Song ít lâu sau các tỉnh muốn thấy
An Ḥa, mà ngụy không đem An Ḥa ra mặt đặng v́
không có ông Hoàng ấy trong Nam Kỳ, nên các tỉnh đă
bỏ Khôi, tưởng Ngụy phải rút về Saigon,
kế binh trào tới vậy".
Dị nghị là: nếu không ủng hộ
về nguyên tắc và v́ thực tế tại sao không
cương quyết từ chối đề nghị
của Khôi, và nhận vào thành Phiên An? Chúng tôi đă lư
giải: Cố Du đă thấy trước những
dị nghị đó, đương thời và cả sau
này, nhưng ông sẵn sàng chấp nhận tất cả v́
lư do chủ yếu buộc ông phải lên Saigon là lư do
mục vụ (pastrale) hay nói theo kiểu đời, lư do
nghiệp vụ: trách nhiệm phần hồn của giáo
dân là nhiệm vụ của ông đă chọn, là lư do
tồn tại của đời ông.